Quan hệ nhà nước và thị trường trong nền kinh tế: một số vấn đề lý luận và thực tiễn | Tạp chí Tuyên giáo

1. Trong nền kinh tế thị trường, quốc gia và thị trường đều với vai trò và chức năng riêng. Bản thân thị trường luôn vận hành theo những quy luật vốn với khách quan và trên thực tế cơ chế thị trường là cơ chế hiệu quả trong phân bổ và khai thác những nguồn lực. Music thị trường vận động tự do luôn với xu thế đẩy nền kinh tế vào tình trạng ko ổn định và khủng hoảng. Thị trường với những khuyết thiếu cố hữu, đòi hỏi phải với sự can thiệp của quốc gia vào nền kinh tế để khắc phục. Tuy nhiên, quốc gia cũng với hạn chế và cũng thất bại lúc can thiệp quá mức. Chính sự khuyết thiếu của thị trường và hạn chế của quốc gia cho thấy: ko thể phát triển lúc thiếu vắng sự can thiệp của quốc gia, cũng như ko thể phát triển nếu thiếu vắng thị trường, để phát triển đòi hỏi quốc gia và thị trường cần tương tác, tương trợ nhau, khắc phục những khuyết thiếu.

Mối quan hệ giữa quốc gia và thị trường xuất phát từ chính nhu cầu của cả 2 bên, đó là mối quan hệ thế tất, tương tác phụ thuộc nhau. Biểu hiện kết quả của sự tương tác giữa quốc gia và thị trường là sự phát triển của kinh tế – xã hội ở mỗi quốc gia. Việc xử lý mối quan hệ này được biểu hiện tập trung ở hệ thống thiết chế phát triển.

Bản thân vai trò, chức năng của quốc gia và thị trường cũng với biến đổi, gắn ngay tắp lự với sự biến đổi của lực lượng gia công. Trong nền kinh tế thị trường tiên tiến và hội nhập quốc tế, thị trường mang tính toàn cầu, quốc gia chú trọng hơn tới vai trò điều tiết, trong đó đối tượng điều tiết cũng mở rộng, gồm cả những tập đoàn kinh tế đa quốc gia, những tổ chức quốc tế… Và điều quan yếu hơn, trongmột thị trường ngày càng toàn cầu hóa đòi hỏi việc thiết lập những quy tắc, luật chơi mớiphải tính tới sự ưng ý với những đòi hỏi của những chủ thể của toàn cầu hóa, với nghĩa rằng những quy định này ko thể chỉ là sản phẩm của riêng quốc gia, mà phải tính tới sự tương thích và ưng ý với chuẩn mực phổ thông chung trong nền kinh tế toàn cầu.

2. Với chức năng kinh tế, quốc gia ko chỉ là người quản lý, người ban hành những quy định, những luật chơi trên thị trường, mà còn đóng vai trò chủ thể hoạt động gia công (nhất là những hàng hóa và dịch vụ công), là người tậu và bán những hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Như vậy lúc này quan hệ giữa quốc gia và thị trường biểu hiện ra là quan hệ giữa những chủ thể trên thị trường, quan hệ giữa những người tậu và người bán hàng hóa và dịch vụchịu sự tương tác, giàng buộc của những quy luật kinh tế trên thị trường, cũng như sự quản lý điều hành của quốc gia thông qua hệ thống quy định pháp luật và những phương tiện quản lý.

Xét về mục thực thụ hiện những chức năng, dù xuất hiện với tư cách nào, thì quan hệ giữa quốc gia và thị trường, về thực chất, là quan hệ tiện lợi. Đó là tiện lợi của quốc gia và tiện lợi của những chủ thể trên thị trường. Quốc gia thực hiện quản lý là hướng tới mục tiêu đảm bảo cho thị trường phát triển hiệu quả. Thị trường phát triển chính là cơ sở kinh tế, đảm bảo sự phát triển của quốc gia. Do vậy trong xử lý quan hệ giữa quốc gia và thị trường cần đảm bảo kết hợp tiện lợi giữa những chủ thể trên thị trường. Điều cần khẳng định là, sự tương tác giữa quốc gia và thị trường đều hướng tới gia tăng tiện lợi, tạo ra sự tăng trưởng nói chung của những chủ thể trên thị trường. Đây chính là mặt thống nhất trong mối quan hệ giữa quốc gia và thị trường, xúc tiến quốc gia và thị trường gắn bó, tương tác với nhau.

Về thực chất, đó chính là quan hệ tương hỗ, tùy thuộc vào nhau cùng phát triển, cùng đạt được tiện lợi. Mặt khác trong quá trình tương tác với sự khó khăn vai trò, tiện lợi. Lúc “phân vai” ưng ý, đúng với trình độ phát triển và năng lực xử lý thì tiện lợi sẽ được thỏa mãn. Trái lại, lúc “phân vai” ko đúng, quốc gia lấn lướt thị trường, hay thị trường lấn lướt quốc gia thì sẽ dẫn tới kết cuộc: sự quản lý của quốc gia kém hiệu quả và bản thân thị trường sẽ ko thể phân bổ tuyệt vời, hiệu quả những nguồn lực. Đây chính là mặt mâu thuẫn trong quan hệ giữa quốc gia và thị trường.

3. Cho dù những nền kinh tế với những đặc thù khác nhau về trình độ phát triển, music đều phải giải quyết mối quan hệ quốc gia và thị trường. Việc xử lý mối quan hệ này xuất phát ngay từ chủ thuyết phát triển mà quốc gia đó lựa tìm. Đã từng với thời kỳ tồn tại mô hình kinh tế phi thị trường, quốc gia thực hiện quản lý, điều hành nền kinh tế theo chương trình, kế hoạch pháp lệnh. Và cũng từng với thời kỳ với chủ thuyết về nền kinh tế thị trường tự do, quốc gia ko được khuyến khích can thiệp vào nền kinh tế.

Cho dù quốc gia hay thị trường được quan tâm, thì trong thực tiễn những quốc gia đều phải xác định, phân định vai trò quốc gia và thị trường, và điều đó được thiết chế hóa, làm cơ sở cho vận hành trong thực tiễn. Hệ thống pháp luật, nhất là luật kinh tế trong những nền kinh tế thị trường vì vậy đã với sự phát triển mạnh gắn ngay tắp lự với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thế giới. Kinh tế thị trường phát triển gắn ngay tắp lự sự phát triển của quốc gia pháp quyền.

4. Quan hệ quốc gia và thị trường là mối quan hệ cơ bản trong nền kinh tế thị trường. Trên bề mặt xã hội, biểu hiện dễ nhận thấy nhất của chính trị là quốc gia với cấu trúc tương ứng của nó. Về phương diện kinh tế, trong điều kiện kinh tế thị trường, biểu hiện tập trung của mặt kinh tế là hoạt động của thị trường với những quy luật kinh tế đặc trưng của nó như quy luật giá trị, quy luật khó khăn, quy luật cung cầu…. Do đó trong thực tiễn, ở một góc độ nhất định,việc xử lý mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị biểu hiện tập trung thành mối quan hệ giữa quốc gia và thị trường. Ko kể đó, bản thân thị trường, cơ chế thị trường là phương tiện hiệu quả nhất mà loài người đã phát hiện để huy động và khai thác những nguồn lực cho phát triển, cho hiện thực hóa nền tảng kinh tế của một xã hội. Lúc quốc gia xuất hiện với tư cách chủ thể với chức năng kiến tạo xây dựng nền tảng kinh tế của một xã hội, thì việc xử lý quan hệ mục tiêu và phương tiện được biểu hiện thành mối quan hệ giữa quốc gia và thị trường.

Mối quan hệ quốc gia và thị trường còn được thể hiện ra là mối quan hệ giữa chủ thể với khách thể, lúc quốc gia đóng vai trò là chủ thể quản lý nền kinh tế thị trường; hay đó là mối quan hệ giữa những chủ thể trong nền kinh tế, lúc quốc gia xuất hiện với tư cách là một chủ thể trên thị trường, sẽ quan hệ đồng đẳng với những chủ thể khác theo luật định. Quan hệ quốc gia và thị trường cũng phản ánh mối quan hệ giữa mẫu chủ quan với khách quan, bởi lẽ thị trường luôn vận động theo những quy luật khách quan và chịu sự điều tiết của quốc gia, lúc đó quốc gia xuất hiện là những quy định, luật lệ, và những phương tiện điều tiết khác. Những phương tiện này là sản phẩm chủ quan để định hướng thị trường, tạo luật chơi cho thị trường. Thị trường sẽ hiệu quả lúc những phương tiện này tuyệt vời, ko làm méo mó thị trường.

5. Mối quan hệ quốc gia và thị trường là mối sử dụng rộng rãi xuyên suốt chiều dài phát triển của nền kinh tế thị trường ở những quốc gia. Giải quyết tuyệt vời mối quan hệ quốc gia và thị trường là chìa khóa thành công của những nền kinh tế. Tuy nhiên, ko với khuôn mẫu chung cho việc xử lý mối quan hệ này, mà ở mỗi nền kinh tế mức độ tham gia của quốc gia hay mức độ quyết định của thị trường là rất rộng rãi tùy thuộc vào trình độ phát triển, quan niệm về mô hình vận hành, tập quán truyền thốnglịch sử -văn hóa…

Thực tiễn lịch sử cho thấy, sự thất bại của ko ít nền kinh tế là do tuyệt đối hóa quốc gia hay tuyệt đối hóa thị trường. Mô hình chung với tính phổ thông hiện nay là phát triển nền kinh tế hỗn hợp mà ở đó vai trò quốc gia và vai trò thị trường đều được phát huy, bổ khuyết cho nhau.

Trong những nền kinh tế thị trường phát triển phương Tây, quốc gia được quan tâm nhiều hơn trong vai trò là người dẫn dắt, điều chỉnh. Vai trò này đặc thù được quan tâm trong những thời kỳ khủng hoảng. Nhiều quốc gia đã đẩy mạnh quá trình tư nhân hóa, hoặc chuyển giao công – tư, quốc gia hầu như ko triển khai đầu tư kinh doanh trực tiếp, bản thân những dịch vụ công cũng được chuyển cho tư nhân tham gia cung cấp. Với những phương tiện điều tiết, nhất là những chính sách tài chính – tiền tệ, thuế, ngân sách, xây dựng những chiến lược, quy hoạch dài hạn… để điều chỉnh, định hướng nền kinh tế.

Trong những nền kinh tế Đông Á, trong thời kỳ đầu quốc gia can thiệp khá mạnh vào nền kinh tế, thực sự là động lực xúc tiến và định hướng phát triển. Tuy nhiên, trong những thập kỷ vừa qua quá trình tư nhân hóa và phân quyền, giải điều tiết được đẩy mạnh. Vai trò quốc gia tuy vẫn được nhấn mạnh hơn so với những nền kinh tế Âu-Mỹ, music quốc gia và thị trường với sự phối hợp chặt chẽ, quốc gia quan tâm hơn trong việc tạo lập hành lang pháp lý, xây dựng những quy tắc, tạo lập cơ sở hạ tầng, quan tâm những chính sách an ninh quốc gia và an ninh con người. Đó là kinh nghiệm rất đáng tham khảo với Việt Nam.

Trong nền kinh tế thị trường XHCN Trung Quốc với những nét riêng trong xử lý mối quan hệ quốc gia và thị trường. Từ chú trọng vai trò quốc gia, Trung Quốc chuyển dần sang phối hợp quốc gia và thị trường, thừa nhận vai trò cơ bản thị trường, và thực tế phát triển của Trung Quốc đã đưa tới sự điều chỉnh, hay thừa nhận vai trò quyết định của thị trường trong phân bổ nguồn lực. Tuy nhiên, trong nền kinh tế Trung Quốc khu vực kinh tế quốc doanh (quốc hữu) vẫn được quan tâm với vai trò chủ đạo. Cùng với phát triển với hiệu quả kinh tế quốc gia, quốc gia được chú trọng trong vai trò điều tiết vĩ mô, trong xây dựng những thiết chế thị trường và môi trường cho doanh nghiệp phát triển.

6. Ở Việt Nam, Trước thời kỳ đổi mới nhường nhịn như chúng ta chưa thực sự quan tâm tới mối quan hệ giữa quốc gia và thị trường. Đã với thời đoạn chúng ta nhấn mạnh tới vai trò quốc gia, quốc gia với vị trí tuyệt đối, thông qua quốc gia để giải quyết những vấn đề liên quan tới xã hội, tới cuộc sống của người dân. Thị trường chỉ xem như nơi diễn ra những hoạt động tậu bán theo mục tiêu và kế hoạch định sẵn (thậm chí ko thừa nhận vai trò thị trường), dẫn tới hình thành những thị trường ko chính thức (ko được phép). Với việc đổi mới, chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với sự quản lý của quốc gia, tuy chưa trực tiếp khẳng định mối quan hệgiữanhà nướcvà thị trường, nhưng trong đường lối, chủ trương phát triển kinh tế đều toát lên sự gắn bó giữa quốc gia và thị trường.

Qua hơn 30 năm đổi mới, nhận thứccủa Đảng, Quốc gia ta về mối quan hệ quốc gia và thị trường ngày một rõ hơn.

Thứ nhất, xem quan hệ nhà nướcvà thị trường là một trong những mối quan hệ to, quan yếu và cần xác định rõvà thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng và mối quan hệ của quốc gia và thị trường ưng ý với kinh tế thị trường. Thị trường với khuyết thiếu, nhu yếu sự can thiệp của Quốc gia, nhưng thị trường chính là đối tượng và nguồn thông tin cho quốc gia hình thành những chính sách và thực hiện chức năng điều tiết để đảm bảo môi trường tăng trưởng.

Thứ hai, nhận thức ngày càng cụ thể chức năng của quốc gia trong quan hệ với thị trường.

Quốc gia Việt Nam đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thiết chế kinh tế, tạo môi trường khó khăn đồng đẳng, sáng tỏ và lành mạnh; ko can thiệp trực tiếp, mà sử dụng những phương tiện, chính sách và những nguồn lực củanhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, ko làm méo mó thị trường, xúc tiến gia công, kinh doanh và bảo vệ môi trường.

Thứ ba, xác định rõ vai trò thị trường. Thống nhất khẳng định thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ với hiệu quả những nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để phóng thích sức gia công. Việc vận dụng cơ chế thị trường phải toàn bộ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ và với hiệu quả mọi nguồn lực, nhằm phát triển nhanh và vững bền nền kinh tế. Và để thị trường phát huy hiệu quả cần phải tạo lập đồng bộ những yếu tố thị trường và những loại thị trường.

Thứ tư, xác định rõ tăng trưởng kinh tế phải gắn chặt với giải quyết những vấn đề xã hội. Phối hợp chặt chẽ những mục tiêu chính sách kinh tế với những mục tiêu chính sách xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển ưng ý với điều kiện cụ thể, đảm bảo phát triển nhanh, vững bền.

Những vấn đề xã hội ko phải là thụ động, đi sau kinh tế, mà giải quyết tốt những vấn đề xã hội cũng chính là điều kiện, là động lực cho tăng trưởng.

Thứ năm, để giải quyết tốt mối quan hệgiữanhà nướcvà thị trường, Đảng ta cũng chỉ rõ cần phải đẩy mạnh quá trình thiết chế hóa vai trò, chức năng của những thành tố và mối quan hệ. Và ko chỉ phải gắn bó giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội, mà cần phải giải quyết kết hợp những tiện lợi quốc gia, doanh nghiệp và người dân, mới giải quyết tốt quan hệgiữanhà nướcvà thị trường. Tại Quyết nghị Trung ương 5 khóa XII, Đảng ta chỉ rõ ko chỉ nhấn quan hệ quốc gia và thị trường mà còn nhấn tới thành tố xã hội trong quan hệ này và yêu cầu xác định rõvà thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng và mối quan hệ của quốc gia, thị trường và xã hội ưng ý với kinh tế thị trường. Ý kiến này được tái khẳng định tại Đại hội XIII của Đảng.

7. Trong điều hành thực tiễn, mối quan hệ quốc gia và thị trường ở Việt Nam đã được sử dụng rộng rãi, vai trò quốc gia cũng như vai trò của thị trường đã thể hiện ngày một rõ và hiệu quả.

Một là, Quốc gia đã thực sự quan tâm tới vai trò "cô đỡ" cho thị trường hình thành và phát triển. Đã thiết chế hóa và tạo điều kiện cho quá trình hình thành và phát triển những loại thị trường, nên những thị trường với sự phát triển mạnh về quy mô và chất lượng, những thị trường mới được hình thành; đã thực sự chủ động và tích cực hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và khu vực, quy mô giao du tăng cao. Song song “xã hội hoá” một số nhiệm vụ của Quốc gia; “mở” ra nhiều ngành, lĩnh vực trước đây là độc quyền của Quốc gia; Quốc gia thoái lui dần khỏi lĩnh vực kinh doanh ko cấp thiết và “nhường lại” cho khu vực kinh tế ngoài quốc gia và những doanh nghiệp xã hội nhằm đạt hiệu quả kinh tế – xã hội.

Hai là, đã hình thành thiết chế về chức năng quản lý kinh tế của Quốc gia, bao gồm: 1) Phân biệt chức năng quản lý quốc gia với chức năng quản lý gia công kinh doanh của những đơn vị cơ sở; 2) Quốc gia “từ bỏ” hoạt động quản trị và can thiệptrực tiếpvào gia công kinh doanh của doanh nghiệp mà tập trung thực hiện chức năng quản lý quốc gia về kinh tế; 3) Tách bạch chức năng quản lý kinh tế vĩ mô và chức năng chủ sở hữu của doanh nghiệp quốc gia, từng bước xoá bỏ “bộ chủ quản”.

Ba là, trong điều hành quản lý vĩ mô, Quốc gia đã dần hạn chế tối đa mệnh lệnh hành chính để những hoạt động của thị trường diễn ra chủ yếu theo sự hướng dẫn của những quy luật thị trường, đảm bảo nguyên tắc thị trường “tự điều chỉnh”, song song tăng cường quản lý của Quốc gia xã hội chủ nghĩa (XHCN). Lấy thị trường làm cơ sở chủ yếu để phân bổ những nguồn lực kinh tế phối hợp với điều tiết vĩ mô của quốc gia bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và bằng những nguồn lực, những chính sách hướng quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hệ thống kinh doanh vào những lĩnh vực và địa bàn cấp thiết. Thiết chế định giá, nhất là giá cả hàng hóa, dịch vụ, đã được tự do hóa.

Bốn là, vai trò, chức năng của thị trường cũng càng được coi trọng, thể hiện rõ nét ở những điểm sau: 1) Thị trường đã thực sự từng bước là căn cứ để Quốc gia định hướng phát triển kinh tế tổ quốc thông qua những chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội. 2) Thị trường/doanh nghiệp ngoài quốc gia tham gia cung ứng những dịch vụ xã hội. 3) Thị trường là căn cứ để tạo một khung pháp lý toàn bộ, đồng bộ, nhất quán, sáng tỏ và vững chắc, ko chỉ là một hệ thống luật lệ và quy định, mà còn bao hàm những định chế cấp thiết để thực hiện và cưỡng chế việc thi hành pháp luật và giải quyết tranh chấp, bao gồm toà án và những cơ quan cưỡng chế thi hành luật. 4) Thị trườngtham gia kiểm tra, giám sát những hoạt động kinh tế, góp phần tạo ra sân chơi đồng đẳng cho những thành phần kinh tế.

Năm là, cơ cấu lại, tăng hiệu quả doanh nghiệp quốc gia.Bản thân doanh nghiệp quốc gia cũng phải vận hành, hạch toán theo cơ chế thị trường. Đáng quan tâm là việc tách chức năng đại diện chủ sở hữu với chức năng quản lý chung của Quốc gia thông qua thành lập Ủy ban Quản lý vốn quốc gia tại doanh nghiệp. Chính phủ cũng đã đẩy mạnh cải cách, cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành góp phần đưa những doanh nghiệp quốc gia được tập trung nhiều hơn vào những lĩnh vực then chốt, quốc phòng, an ninh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ công thiết yếu.

Sáu là, khu vực tư nhân với sự phát triển mạnh trong những lĩnh vực pháp luật ko cấm, và tham gia cung ứng dịch vụ công. Đây là một trong những thành công của quá trình xử lý quan hệ quốc gia và thị trường trong những năm vừa qua. Trên thực tế vai trò kinh tế tư nhân trong nền kinh tế ngày càng được thừa nhận và với đóng góp ngày càng to xét trên tỷ lệ nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế, đóng góp thu ngân sách, tạo việc làm… Số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng mạnh với nhiều loại hình rộng rãi, với những doanh nghiệp, tập đoàn to với khả năng khó khăn trên thị trường.

Bảy là, phát triển những doanh nghiệp xã hội và những hội tự quản.Phát triển doanh nghiệp xã hội (DNXH) là hoàn toàn ưng ý với mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng Quốc gia pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Từ lúc khái niệm DNXH được biết tới vào những năm 2008 tới nay, DNXH đã phát triển rộng rãi, với sức tác động tới chính sách của Quốc gia và lan tỏa sâu rộng trong cùng đồng. Ko kể những DNXH, với việc đẩy mạnh thực hiện dân chủ hóa cơ sở, trong những năm qua mô hình tự quản khu dân cư đã phát triển khá rộng rãi ở nhiều địa phương như: tuyến đường tự quản, tự quản bảo vệ môi trường, tự quản an ninh trật tự… đã góp phần tăng đời sống người dân. Đây là hướng quan yếu góp phần tăng vai trò thành tố xã hội trong tạo lập môi trường tăng trưởng, giám sát, bổ sung cho những khuyến khuyết của thị trường trong những năm qua.

Tám là, trong quá trình xây dựng cũng như thực hiện chủ trương, chính sách đã quan tâm gắn bó hơn chức năng, nhiệm vụ của Nhà nướcvà thị trường, tức là với sự “phân vai” ngay trong quá trình xây dựng chủ trương, chính sách, do vậy tính khả thi chính sách cũng cao hơn, với sự đồng thuận của người dân. Sự tham gia của doanh nghiệp và xã hội vào quá trình định hình chính sách ngày một rõ và hiệu quả.

8. Việc xử lý quan hệ quốc gia và thị trường ở nước ta trong thời kì qua đã với kết quả quan yếu, góp phần tăng năng lực khó khăn và hiệu quả hoạt động kinh tế, xúc tiến tăng trưởng. Tuy nhiên trong quá trình đó cũng còn nhiều vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết. Cụ thể là:

Thứ nhất, duy trì khu vực doanh nghiệp quốc gia chiếm quy mô to, kém hiệu quả hoạt động, chưa xác định rõ, cụ thể những lĩnh vực và khâu then chốt Quốc gia cần nắm giữ. Khu vực sự nghiệp công chiếm quy mô to, chưa vận hành theo kinh tế thị trường, còn bao cấp to từ Quốc gia. Nguồn lực quốc gia nắm giữ, phân bổ, đầu tư chưa thực sự tuân theo quy luật của kinh tế thị trường.

Thứ hai, Quốc gia còn hạn chế về năng lực kiến tạo phát triển, dẫn dắt thị trường, nhất là kiến tạo phát triển những yếu tố thị trường hoặc những thị trường đặc thù mà tư nhân ko hoặc chưa tham gia. Đầu tư công của Quốc gia chưa đủ sức “làm mồi”, “dẫn dắt” cho đầu tư của tư nhân trên thị trường. Chưa tách chức năng dịch vụ công khỏi quảnlý hành chính quốc gia, tình trạng quan liêu còn nặng nề. Hệ thống cung ứng dịch vụ công chưa thật sự trở thành khách hàng phục vụ doanh nghiệp và người dân.

Thứ ba, phương tiện pháp luật chưa ổn định, Quốc gia chưa thật sự trở thành “trọng tài” cho những chủ thể kinh tế. Chính sách tài khóa, tiền tệ, tỷ giá phối hợp thiếu linh hoạt; thiếu tính độc lập tương đối của Nhà băng Quốc gia với hệ thống hành chính. Lực lượng vật chất của Quốc gia can thiệp vào thị trường còn phân tán, tiêu hao, vừa chưa theo quy hoạch, kế hoạch, vừa chưa theo quy luật của thị trường. Hệ thống dịch vụ công chưa phân tích những trách nhiệm tổ chức cung ứng, chi trả phí và quản lý để tiến hành đổi mới hiệu quả, mở rộng thời cơ cho tư nhân tham gia.

Thứ tư, chưa thật sự tạo môi trường khó khăn đồng đẳng giữa khu vực công và khu vực tư, giữa những tổ chức kinh tế trong khu vực tư, trong tiếp cận những nguồn lực công (đất đai, tín dụng, tài nguyên khác…). Chưa phóng thích triệt để tiềm lực, thế mạnh của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế, thiếu những doanh nghiệp tư nhân đủ mạnh để vươn ra hội nhập quốc tế. Hợp tác công – tư bị biến dạng, nhiều nguồn lực quốc gia rơi vào “sân sau” thông qua hợp tác công tư.

0baa6a75362d1e27da3d5891dafae451 L

Thứ năm, chưa thực sự đặt doanh nghiệp quốc gia với tư cách là nhà đầu tư đồng đẳng trên thị trường. Nguồn lực quốc gia đầu tư theo quy hoạch, kế hoạch chưa hoàn toàn tôn trọng quy luật thị trường, bị tiện lợi cục bộ, tiện lợi nhóm chi phối, dẫn tới hiệu quả thấp. Nhìn tổng thể toàn xã hội nguồn lực được huy động, phân bổ chưa tôn trọng toàn bộ quy luật của kinh tế thị trường (giá trị, cung cầu, khó khăn).

Thứ sáu, phân phối lần đầu của thị trường và phân phối lại của Quốc gia chưa được thiết kế liên thông nhằm đảm bảo phát huy động lực của thị trường và đảm bảo phúc lợi cho người dân. Lồng ghép chính sách xã hội thông qua bao cấp giá dịch vụ và tổ chức hệ thống cung ứng dịch vụ sự nghiệp công kềnh càng, kém hiệu quả, tạo gánh nặng bao cấp ngân sách và biên chế.

9. Để giải quyết tốt mối quan hệgiữa Quốc gia và thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, đòi hỏi phải được đặt trong tổng thể quá trình hoàn thiện thiết chế kinh tế thị trường và đây là quá trình thường xuyên, lâu dài, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Quá trình này đòi hỏi phải tôn trọng những quy luật của kinh tế thị trường và đi ngay tắp lự với phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Quốc gia. Và tất nhiên trong quá trình giải quyết mối quan hệ này phải gắn từng bước với những thời đoạn phát triển của nền kinh tế dân tộc, ưng ý với những chuẩn mực quốc tế, tối đa hóa tiện lợi quốc gia dân tộc.

Trong quá trình xử lý quan hệ cần tăng hiệu quả quản trị quốc gia, Quốc gia chỉ làm những mẫu gì mà thị trường ko làm hoặc chưa làm. Trên thực tế, Quốc gia và thị trường ko đối lập mà bổ sung cho nhau, hiệu quả trên thực tế chính là thước đo tương tác ưng ý giữa Quốc gia và thị trường. Trong quá trình tương tác Quốc gia và thị trường ko chỉ tăng năng lực quản trị quốc gia, tạo sự phát triển toàn bộ, động bộ của thị trường mà nhu yếu sự tham gia của “khu vực thứ ba” – khu vực những tổ chức phi lợi nhuận, chúng vừa tương trợ, bổ sung cho Quốc gia và thị trường, song song chúng cũng giám sát cả Quốc gia và thị trường.

Trong định hướng chính sách cần tập trung vào một số hướng cơ bản sau:

Một là, tăng hiệu quả sử dụng những phương tiện kiến tạo phát triển của Quốc gia.

Hai là,thực hiện cơ chế giá do thị trường quyết định, thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ nguồn lực, song song Quốc gia phải đổi mới phương thức sử dụng những cùng cụ quản lý để điều tiết những nguồn lực theo những kế hoạch và quy hoạch ưng ý với với chế thị trường.

Ba là, xúc tiến hình thành sở hữu xã hội và hoàn thiện thiết chế, cơ chế, bảo hộ quyền tài sản của công dân để tài sản giao du thông suốt trên thị thị trường. Thiết chế hóa toàn bộ, cụ thể quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Quốc gia với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai, tài nguyên, khóng sản… ưng ý với cơ chế thị trường. Tiếp tục đổi mới việc đăng ký, chứng thực quyền sử dụng đất, bảo hộ quyền tài sản hình thành từ quyền sử dụng đất. Triển khai ứng dụng mô hình quản lý vốn tiên tiến, tách rời giữa quyền quản lý kinh doanh vốn quốc gia với quản lý hành chính quốc gia của những bộ, ngành.

Bốn là, xác lập quyền đồng đẳng của những chủ thể trên thị trường, xúc tiến tự do kinh doanh, chống độc quyền.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh sự phát triển động bộ, vận hành thông suốt của những thị trường trên cơ sở tập trung vào hoàn thiện những phương thức giao du hàng hóa – dịch vụ tiên tiến, đổi mới chính sách đất đai để xúc tiến thị trường quyền sử dụng đất, lập sàn giao du đất đai. Đổi mới hệ thống ngân hành theo những chuẩn mực quản trị tiên tiến trên thế giới. Tương trợ huấn luyện nguồn nhân lực với kỹ năng, xúc tiến phát triển thị trường lao động thông qua hình thành sàn giao du việc làm gắn ngay tắp lự với xóa bỏ cơ chế quản lý hộ khẩu để xúc tiến dịch chuyển lao động.

Sáu là, đảm bảo công bằng trong phân phối nguồn lực phát triển để những chủ thể của kinh tế thị trường với điều kiện phát huy cao nhất năng lực làm giàu cho mình và đóng góp cho xã hội. Mang cơ chế khuyến khích xúc tiến kinh tế san sẻ và trách nhiệm xã hội trong nội bộ những doanh nghiệp, đảm bảo phân phối lại ngay trong nội bộ doanh nghiệp gắn với xây dựng văn hóa kinh doanh trong nền kinh tế thị trường tiên tiến. Hoàn thiện phương tiện thuế tác động, điều tiết doanh nghiệp gia tăng trách nhiệm xã hội. Mang chính sách khuyến khích phát triển DNXH hội hướng tới phân khúc thị trường lao động cho người nghèo, người yếu thế, người gặp hoàn cảnh rủi ro dựa vào sự vận dụng nguyên tắc của thị trường và đề cao giá trị nhân đạo, nhân văn.

Bảy là, phát huy vai trò của thành tố xã hội bổ sung cho giới hạn của Quốc gia, góp phần khắc phục khuyết tật của thị trường, kiểm soát những nhóm tiện lợi tác động gây méo mó quy luật của nền kinh tế thị trường và trục lợi chính sách./.

PGS. TS. Vũ Văn Hà Đại học Đại Nam