Công thức quặng Boxit – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Công thức quặng Boxit – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng phải ko Nếu đúng tương tự thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các bài tập khác tại đây => Giáo dục

1. Quặng sắt:

2. Quặng kali và natri:

3. Quặng canxi và magiê:

Bạn đang thẩm định: Bauxite Recipe

tại vì. Quặng nhôm:

quang boxit 1

5. Mỏ đồng

Trước tiên. Quặng đồng niken: Cu2nhỏ

2. Cancoporite: CuS.FeS (CuFeS2)

3. Malakit: CuCO3.Cu (OH)2

4. Azurite: 2CuCO3.Cu (OH)2

5. Cuprit: Đồng2○

Công thức của bôxit là

A. Al2O3.2H2OAl2O3.2H2O

B. FeCO3FeCO3

C. Al2O3.Fe2O3Al2O3.Fe2O3

D. Fe3O4.H2O

Câu trả lời được chọn là: A

Bauxit

Bauxite (từ tiếng Pháp bauxite / boksite /) là một loại quặng đá núi lửa màu hồng, tan được tạo nên do quá trình phong hóa của đá giàu nhôm hoặc sự tích tụ của quặng có từ trước qua quá trình xói mòn. Bauxite phân bố chủ yếu ở các vòng đai quanh xích đạo, đặc thù là ở môi trường nhiệt đới. Alumina (Al2O3) có thể được chiết xuất từ ​​bôxit, là vật liệu chính để nấu chảy nhôm trong lò điện phân, chiếm 95% lượng bôxit khai thác trên toàn cầu. Được đặt theo tên của ngôi làng Les Baux-de-Provence ở miền nam nước Pháp, loại quặng bôxít này lần trước tiên được phát hiện vào năm 1821 bởi nhà địa chất học Pierre Berthier.

tạo nên và phân phối

biểu mẫu

Các giọt bôxit nóng chảy sinh ra từ lòng đất, hút nhau, lớn dần và được mồm núi lửa đẩy lên bề mặt cùng với các mảnh vụn và đá cuội dung nham núi lửa tạo thành thành phần kiềm – kiềm trẻ (kích thước Paleogen trở lại Paleogen) kích thước). cái này). Ở bề mặt, đá cuội dung nham núi lửa có chứa bauxit và quặng sunfua đa kim liên kết bị đá ong hóa, và bên dưới mực nước ngầm chúng được kaoli hóa để tạo thành cao lanh đông đặc có chứa các mảnh vụn, đá cuội, bauxit và quặng sunfua nhiều kim.

Bauxite tạo nên trên đá có hàm lượng sắt thấp, hoặc sắt bị rửa trôi trong quá trình phong hóa. Quá trình tạo nên trải qua các thời kỳ sau:

Phong hóa và nước thấm vào đá gốc tạo ra oxit nhôm và sắt
Làm giàu trầm tích hoặc đá đã bị rửa trôi và phong hóa bởi nước ngầm
Xói mòn và tái tích tụ bauxit.
Quá trình này bị tác động bởi một số yếu tố chính, chẳng hạn như:

Đá mẹ chứa các khoáng vật hòa tan bị rửa trôi, chỉ còn lại nhôm và sắt,
Độ xốp hiệu quả của đá cho phép nước đi qua,
Lượng mưa lớn xen kẽ với thời kì khô hạn ngắn,
hệ thống thoát nước tốt
khí hậu nhiệt đới ẩm
Lớp phủ thực vật có vi khuẩn hiện diện. Theo mẫu hình mô phỏng của quá trình, pH thích hợp khoảng 3,5-4,0.

phân phát

Bauxite phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, vùng biển Caribe và biển Địa Trung Hải xung quanh đường xích đạo. Bauxite được tìm thấy ở Úc, Nam Mỹ và Trung Mỹ (Jamaica, Brazil, Suriname, Venezuela, Guyana), Châu Phi (Guinea) và các khu vực khác . , Châu Á (Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam), Nga, Kazakhstan và Châu Âu (Hy Lạp).

Xuất xứ tạo nên dẫn tới sự tạo nên hai loại bôxit:

Các kiểu phong hóa được tạo nên do quá trình đá ong hóa xảy ra trên đá gốc silicat chỉ trong điều kiện nhiệt đới: granit, gneiss, bazan, syenit và sét kết. Ko giống như sự tạo nên đá ong sắt, sự tạo nên bôxit yêu cầu các điều kiện phong hóa mạnh hơn và hệ thống thủy văn thoát nước rất tốt để cho phép hòa tan và tạo cặn kaolinit và tạo nên các trầm tích gibbsite. Khu vực có hàm lượng nhôm cao nhất thường ở dưới nắp sắt. Dạng chính của nhôm hydroxit trong đá ong bôxit chủ yếu là gibbsit. Ở Việt Nam, bôxít ở Tây Nguyên được tạo nên theo cách này trên nền đá bazan.
Loại có xuất xứ dưới núi lửa có chất lượng tốt và có trị giá công nghiệp. Loại này được tạo nên theo đường núi lửa và sau đó đá ong tạo nên trên các lớp xen kẽ sét-cao lanh của đá cacbonat như đá vôi và đá dolomit do quá trình phong hóa dung nham núi lửa.
Thân quặng bôxit tồn tại ở 4 dạng: lớp phủ, lớp túi, lớp xen kẽ và lớp clastic

Các dạng lớp phủ lớn, được tìm thấy ở Tây Phi, Úc, Nam Mỹ và Ấn Độ, bao gồm các lớp phẳng nằm gần bề mặt và có thể kéo dài hàng km. Độ dày có thể thay đổi từ dưới một mét tới 40m, với độ dày trung bình khoảng 4-6m ở những nơi có thể chấp thu được.
Những chiếc võng được tìm thấy ở Jamaica và Hispaniola, cũng như ở Nam Âu, và bô-xit được tìm thấy trong những chiếc võng này ở độ sâu từ dưới 1m tới hơn 30m. Trong một số trường hợp, các mụn nước này nằm tách rời nhau, trong lúc ở một số trường hợp khác, các vùng sagittal chồng lên nhau và tạo thành các mảng tích tụ lớn.
Các dạng so le xuất hiện ở Hoa Kỳ, Suriname, Brazil, Guyana, Nga, Trung Quốc, Hungary và Địa Trung Hải. Thuở đầu chúng nằm ở bề mặt và sau đó được bao phủ bởi các thành tạo đá sau này, thường ở dạng đá núi lửa. Kết cấu của loại quặng này thường đặc hơn các loại quặng khác vì nó bị nén bởi các thành tạo đá bên trên.
Detrital nhắc đến tới các trầm tích được tạo nên do xói mòn bauxite (các loại trầm tích được mô tả ở trên), chẳng hạn như bauxite ở Arkansas, Hoa Kỳ.

thành phần khoáng vật

Bauxite tồn tại ở ba dạng chính, tùy thuộc vào số lượng và cấu trúc tinh thể của các phân tử nước chứa trong nó: gibbsite Al (OH) 3, boehmite γ-AlO (OH) và diaspore α-AlO (OH), cũng như các khoáng vật ôxít sắt goethit và hematit, các khoáng vật đất sét kaolinit và thường anatase titan điôxít, các sunfua đa kim loại, và các khoáng vật nặng như monazit, zircon và xenotime.

Gibbsite là nhôm hydroxit thực sự, trong lúc boehmite và diaspore tồn tại ở dạng nhôm hydroxit. Sự khác lạ cơ bản giữa boehmite và diaspore là diaspore có cấu trúc tinh thể khác với boehmite và cần nhiệt độ cao hơn để tách nước nhanh chóng.

quang

Thành phần hóa học

Thành phần hóa học chính (bị khử thành oxit) là Al2O3, SiO2, Fe2O3, CaO, TiO2, MgO… Trong đó, nhôm hiđroxit là thành phần chính của quặng.

Thành phần hóa học Al2O3 Fe2O3 CaO SiO2 TiO2 MgO Khối lượng giảm lúc đốt
Phần trăm khối lượng (%) 55,6 4,5 4,4 2,4 2,8 0,3 30
Ở Việt Nam, bôxit được xếp vào loại tài nguyên lúc tỉ lệ giữa alumin và silica được gọi là môđun của silic (ký hiệu µsi) ko nhỏ hơn 2.

sử dụng

Bauxite thường được sử dụng trong lò cao, sản xuất gang / gáo, xi măng, nhôm, phễu rót kim loại lỏng, bể ngâm vật liệu, lò nung, xe lôi lò cao điện…

ở Việt Nam

Có hai loại bô xít chính ở Việt Nam:

Bauxit có xuất xứ trầm tích (biến chất một phần) tập trung ở các tỉnh phía Bắc Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Sơn Lộ và Nghệ An.
Bôxit phong hóa đá ong từ bazan tập trung ở các tỉnh phía Nam: Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương, Phú Yên, Quảng Ngãi.

Nhà xuất bản: Trường Trung cấp Sóc Trăng

Thể loại: Giáo dục

Công thức quặng Boxit – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng

Hình Ảnh về: Công thức quặng Boxit – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng

Video về: Công thức quặng Boxit – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng

Wiki về Công thức quặng Boxit – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng

Công thức quặng Boxit - Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng -

Công thức trọng lượng và tên số lượng

1. Quặng sắt:

  1. Hematit: Fe2○3 mồ hôi
  2. Hematit nâu (limonite): Fe2○3.nH2○
  3. Manganite: Fe3○4
  4. Silicat: FeCO3
  5. Pyrit: FeS2 (Ko nên dùng loại quặng này để chế tạo Fe, vì nó chứa nhiều lưu huỳnh, được dùng để tạo H2vì thế4).

2. Quặng kali và natri:

  1. Muối ăn: NaCl;
  2. Sivinit: KCl.NaCl
  3. Cacnalit: KCl.MgCl2.6 nhà2Ồ…
  4. Nước soda: Natri2carbon monoxide3
  5. Muối và tiêu: NaNO3
  6. Cacnalit: KCl.MgCl2.6 nhà2○

3. Quặng canxi và magiê:

Bạn đang thẩm định: Bauxite Recipe

  1. Đá vôi, phấn … Canxi cacbonat3
  2. Thạch cao: canxi sunfat4.2FUL2○
  3. Phosphit: Ca3(PO.)4)2
  4. Apatit: Ca5F (PO.)4)3 hoặc 3Ca3(PO.)4)2.CaF2
  5. dolomit canxi cacbonat3.MgCO3 (hạch trắng).
  6. Florua: CaF2.
  7. Cacnalit: KCl.MgCl2.6 nhà2○
  8. Manganite: MgCO3 ,
  9. Cairnt: KCl.MgCl2.6 nhà2○

tại vì. Quặng nhôm:

  1. Bô xít: Nhôm2○3.nH2O (thường trộn với SiO.)2sắt2○3 và một số tạp chất khác).
  2. Cryolite: Natri3Nhôm florua6 hoặc AlF3.3NaF
  3. Cao lanh: Nhôm2○3.2SiO2.2FUL2○
  4. Mica: K2nhôm2○3.6SiO2.2FUL2Ồ…

quang boxit 1

5. Mỏ đồng

Trước tiên. Quặng đồng niken: Cu2nhỏ

2. Cancoporite: CuS.FeS (CuFeS2)

3. Malakit: CuCO3.Cu (OH)2

4. Azurite: 2CuCO3.Cu (OH)2

5. Cuprit: Đồng2○

Công thức của bôxit là

A. Al2O3.2H2OAl2O3.2H2O

B. FeCO3FeCO3

C. Al2O3.Fe2O3Al2O3.Fe2O3

D. Fe3O4.H2O

Câu trả lời được chọn là: A

Bauxit

Bauxite (từ tiếng Pháp bauxite / boksite /) là một loại quặng đá núi lửa màu hồng, tan được tạo nên do quá trình phong hóa của đá giàu nhôm hoặc sự tích tụ của quặng có từ trước qua quá trình xói mòn. Bauxite phân bố chủ yếu ở các vòng đai quanh xích đạo, đặc thù là ở môi trường nhiệt đới. Alumina (Al2O3) có thể được chiết xuất từ ​​bôxit, là vật liệu chính để nấu chảy nhôm trong lò điện phân, chiếm 95% lượng bôxit khai thác trên toàn cầu. Được đặt theo tên của ngôi làng Les Baux-de-Provence ở miền nam nước Pháp, loại quặng bôxít này lần trước tiên được phát hiện vào năm 1821 bởi nhà địa chất học Pierre Berthier.

tạo nên và phân phối

biểu mẫu

Các giọt bôxit nóng chảy sinh ra từ lòng đất, hút nhau, lớn dần và được mồm núi lửa đẩy lên bề mặt cùng với các mảnh vụn và đá cuội dung nham núi lửa tạo thành thành phần kiềm – kiềm trẻ (kích thước Paleogen trở lại Paleogen) kích thước). cái này). Ở bề mặt, đá cuội dung nham núi lửa có chứa bauxit và quặng sunfua đa kim liên kết bị đá ong hóa, và bên dưới mực nước ngầm chúng được kaoli hóa để tạo thành cao lanh đông đặc có chứa các mảnh vụn, đá cuội, bauxit và quặng sunfua nhiều kim.

Bauxite tạo nên trên đá có hàm lượng sắt thấp, hoặc sắt bị rửa trôi trong quá trình phong hóa. Quá trình tạo nên trải qua các thời kỳ sau:

Phong hóa và nước thấm vào đá gốc tạo ra oxit nhôm và sắt
Làm giàu trầm tích hoặc đá đã bị rửa trôi và phong hóa bởi nước ngầm
Xói mòn và tái tích tụ bauxit.
Quá trình này bị tác động bởi một số yếu tố chính, chẳng hạn như:

Đá mẹ chứa các khoáng vật hòa tan bị rửa trôi, chỉ còn lại nhôm và sắt,
Độ xốp hiệu quả của đá cho phép nước đi qua,
Lượng mưa lớn xen kẽ với thời kì khô hạn ngắn,
hệ thống thoát nước tốt
khí hậu nhiệt đới ẩm
Lớp phủ thực vật có vi khuẩn hiện diện. Theo mẫu hình mô phỏng của quá trình, pH thích hợp khoảng 3,5-4,0.

phân phát

Bauxite phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, vùng biển Caribe và biển Địa Trung Hải xung quanh đường xích đạo. Bauxite được tìm thấy ở Úc, Nam Mỹ và Trung Mỹ (Jamaica, Brazil, Suriname, Venezuela, Guyana), Châu Phi (Guinea) và các khu vực khác . , Châu Á (Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam), Nga, Kazakhstan và Châu Âu (Hy Lạp).

Xuất xứ tạo nên dẫn tới sự tạo nên hai loại bôxit:

Các kiểu phong hóa được tạo nên do quá trình đá ong hóa xảy ra trên đá gốc silicat chỉ trong điều kiện nhiệt đới: granit, gneiss, bazan, syenit và sét kết. Ko giống như sự tạo nên đá ong sắt, sự tạo nên bôxit yêu cầu các điều kiện phong hóa mạnh hơn và hệ thống thủy văn thoát nước rất tốt để cho phép hòa tan và tạo cặn kaolinit và tạo nên các trầm tích gibbsite. Khu vực có hàm lượng nhôm cao nhất thường ở dưới nắp sắt. Dạng chính của nhôm hydroxit trong đá ong bôxit chủ yếu là gibbsit. Ở Việt Nam, bôxít ở Tây Nguyên được tạo nên theo cách này trên nền đá bazan.
Loại có xuất xứ dưới núi lửa có chất lượng tốt và có trị giá công nghiệp. Loại này được tạo nên theo đường núi lửa và sau đó đá ong tạo nên trên các lớp xen kẽ sét-cao lanh của đá cacbonat như đá vôi và đá dolomit do quá trình phong hóa dung nham núi lửa.
Thân quặng bôxit tồn tại ở 4 dạng: lớp phủ, lớp túi, lớp xen kẽ và lớp clastic

Các dạng lớp phủ lớn, được tìm thấy ở Tây Phi, Úc, Nam Mỹ và Ấn Độ, bao gồm các lớp phẳng nằm gần bề mặt và có thể kéo dài hàng km. Độ dày có thể thay đổi từ dưới một mét tới 40m, với độ dày trung bình khoảng 4-6m ở những nơi có thể chấp thu được.
Những chiếc võng được tìm thấy ở Jamaica và Hispaniola, cũng như ở Nam Âu, và bô-xit được tìm thấy trong những chiếc võng này ở độ sâu từ dưới 1m tới hơn 30m. Trong một số trường hợp, các mụn nước này nằm tách rời nhau, trong lúc ở một số trường hợp khác, các vùng sagittal chồng lên nhau và tạo thành các mảng tích tụ lớn.
Các dạng so le xuất hiện ở Hoa Kỳ, Suriname, Brazil, Guyana, Nga, Trung Quốc, Hungary và Địa Trung Hải. Thuở đầu chúng nằm ở bề mặt và sau đó được bao phủ bởi các thành tạo đá sau này, thường ở dạng đá núi lửa. Kết cấu của loại quặng này thường đặc hơn các loại quặng khác vì nó bị nén bởi các thành tạo đá bên trên.
Detrital nhắc đến tới các trầm tích được tạo nên do xói mòn bauxite (các loại trầm tích được mô tả ở trên), chẳng hạn như bauxite ở Arkansas, Hoa Kỳ.

thành phần khoáng vật

Bauxite tồn tại ở ba dạng chính, tùy thuộc vào số lượng và cấu trúc tinh thể của các phân tử nước chứa trong nó: gibbsite Al (OH) 3, boehmite γ-AlO (OH) và diaspore α-AlO (OH), cũng như các khoáng vật ôxít sắt goethit và hematit, các khoáng vật đất sét kaolinit và thường anatase titan điôxít, các sunfua đa kim loại, và các khoáng vật nặng như monazit, zircon và xenotime.

Gibbsite là nhôm hydroxit thực sự, trong lúc boehmite và diaspore tồn tại ở dạng nhôm hydroxit. Sự khác lạ cơ bản giữa boehmite và diaspore là diaspore có cấu trúc tinh thể khác với boehmite và cần nhiệt độ cao hơn để tách nước nhanh chóng.

quang

Thành phần hóa học

Thành phần hóa học chính (bị khử thành oxit) là Al2O3, SiO2, Fe2O3, CaO, TiO2, MgO… Trong đó, nhôm hiđroxit là thành phần chính của quặng.

Thành phần hóa học Al2O3 Fe2O3 CaO SiO2 TiO2 MgO Khối lượng giảm lúc đốt
Phần trăm khối lượng (%) 55,6 4,5 4,4 2,4 2,8 0,3 30
Ở Việt Nam, bôxit được xếp vào loại tài nguyên lúc tỉ lệ giữa alumin và silica được gọi là môđun của silic (ký hiệu µsi) ko nhỏ hơn 2.

sử dụng

Bauxite thường được sử dụng trong lò cao, sản xuất gang / gáo, xi măng, nhôm, phễu rót kim loại lỏng, bể ngâm vật liệu, lò nung, xe lôi lò cao điện…

ở Việt Nam

Có hai loại bô xít chính ở Việt Nam:

Bauxit có xuất xứ trầm tích (biến chất một phần) tập trung ở các tỉnh phía Bắc Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Sơn Lộ và Nghệ An.
Bôxit phong hóa đá ong từ bazan tập trung ở các tỉnh phía Nam: Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương, Phú Yên, Quảng Ngãi.

Nhà xuất bản: Trường Trung cấp Sóc Trăng

Thể loại: Giáo dục

[rule_{ruleNumber}]

[box type=”note” align=”” class=”” CONG_THUC_QUANG_VA_TEN_QUANG”>Công thức trọng lượng và tên số lượng

1. Quặng sắt:

  1. Hematit: Fe2○3 mồ hôi
  2. Hematit nâu (limonite): Fe2○3.nH2○
  3. Manganite: Fe3○4
  4. Silicat: FeCO3
  5. Pyrit: FeS2 (Không nên dùng loại quặng này để chế tạo Fe, vì nó chứa nhiều lưu huỳnh, được dùng để tạo H2vì thế4).

2. Quặng kali và natri:

  1. Muối ăn: NaCl;
  2. Sivinit: KCl.NaCl
  3. Cacnalit: KCl.MgCl2.6 nhà2Ồ…
  4. Nước soda: Natri2carbon monoxide3
  5. Muối và tiêu: NaNO3
  6. Cacnalit: KCl.MgCl2.6 nhà2○

3. Quặng canxi và magiê:

Bạn đang đánh giá: Bauxite Recipe

  1. Đá vôi, phấn … Canxi cacbonat3
  2. Thạch cao: canxi sunfat4.2FUL2○
  3. Phosphit: Ca3(PO.)4)2
  4. Apatit: Ca5F (PO.)4)3 hoặc 3Ca3(PO.)4)2.CaF2
  5. dolomit canxi cacbonat3.MgCO3 (hạch trắng).
  6. Florua: CaF2.
  7. Cacnalit: KCl.MgCl2.6 nhà2○
  8. Manganite: MgCO3 ,
  9. Cairnt: KCl.MgCl2.6 nhà2○

tại vì. Quặng nhôm:

  1. Bô xít: Nhôm2○3.nH2O (thường trộn với SiO.)2sắt2○3 và một số tạp chất khác).
  2. Cryolite: Natri3Nhôm florua6 hoặc AlF3.3NaF
  3. Cao lanh: Nhôm2○3.2SiO2.2FUL2○
  4. Mica: K2nhôm2○3.6SiO2.2FUL2Ồ…

quang boxit 1

5. Mỏ đồng

Đầu tiên. Quặng đồng niken: Cu2nhỏ

2. Cancoporite: CuS.FeS (CuFeS2)

3. Malakit: CuCO3.Cu (OH)2

4. Azurite: 2CuCO3.Cu (OH)2

5. Cuprit: Đồng2○

Công thức của bôxit là

A. Al2O3.2H2OAl2O3.2H2O

B. FeCO3FeCO3

C. Al2O3.Fe2O3Al2O3.Fe2O3

D. Fe3O4.H2O

Câu trả lời được chọn là: A

Bauxit

Bauxite (từ tiếng Pháp bauxite / boksite /) là một loại quặng đá núi lửa màu hồng, tan được hình thành do quá trình phong hóa của đá giàu nhôm hoặc sự tích tụ của quặng có từ trước qua quá trình xói mòn. Bauxite phân bố chủ yếu ở các vành đai quanh xích đạo, đặc biệt là ở môi trường nhiệt đới. Alumina (Al2O3) có thể được chiết xuất từ ​​bôxit, là nguyên liệu chính để nấu chảy nhôm trong lò điện phân, chiếm 95% lượng bôxit khai thác trên thế giới. Được đặt theo tên của ngôi làng Les Baux-de-Provence ở miền nam nước Pháp, loại quặng bôxít này lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1821 bởi nhà địa chất học Pierre Berthier.

hình thành và phân phối

biểu mẫu

Các giọt bôxit nóng chảy sinh ra từ lòng đất, hút nhau, lớn dần và được miệng núi lửa đẩy lên bề mặt cùng với các mảnh vụn và đá cuội dung nham núi lửa tạo thành thành phần kiềm – kiềm trẻ (kích thước Paleogen trở lại Paleogen) kích thước). cái này). Ở bề mặt, đá cuội dung nham núi lửa có chứa bauxit và quặng sunfua đa kim liên kết bị đá ong hóa, và bên dưới mực nước ngầm chúng được kaoli hóa để tạo thành cao lanh đông đặc có chứa các mảnh vụn, đá cuội, bauxit và quặng sunfua nhiều kim.

Bauxite hình thành trên đá có hàm lượng sắt thấp, hoặc sắt bị rửa trôi trong quá trình phong hóa. Quá trình hình thành trải qua các giai đoạn sau:

Phong hóa và nước thấm vào đá gốc tạo ra oxit nhôm và sắt
Làm giàu trầm tích hoặc đá đã bị rửa trôi và phong hóa bởi nước ngầm
Xói mòn và tái tích tụ bauxit.
Quá trình này bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố chính, chẳng hạn như:

Đá mẹ chứa các khoáng chất hòa tan bị rửa trôi, chỉ còn lại nhôm và sắt,
Độ xốp hiệu quả của đá cho phép nước đi qua,
Lượng mưa lớn xen kẽ với thời gian khô hạn ngắn,
hệ thống thoát nước tốt
khí hậu nhiệt đới ẩm
Lớp phủ thực vật có vi khuẩn hiện diện. Theo mô hình mô phỏng của quá trình, pH thích hợp khoảng 3,5-4,0.

phân phát

Bauxite phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, vùng biển Caribe và biển Địa Trung Hải xung quanh đường xích đạo. Bauxite được tìm thấy ở Úc, Nam Mỹ và Trung Mỹ (Jamaica, Brazil, Suriname, Venezuela, Guyana), Châu Phi (Guinea) và các khu vực khác . , Châu Á (Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam), Nga, Kazakhstan và Châu Âu (Hy Lạp).

Nguồn gốc hình thành dẫn đến sự hình thành hai loại bôxit:

Các kiểu phong hóa được hình thành do quá trình đá ong hóa xảy ra trên đá gốc silicat chỉ trong điều kiện nhiệt đới: granit, gneiss, bazan, syenit và sét kết. Không giống như sự hình thành đá ong sắt, sự hình thành bôxit đòi hỏi các điều kiện phong hóa mạnh hơn và hệ thống thủy văn thoát nước rất tốt để cho phép hòa tan và tạo cặn kaolinit và hình thành các trầm tích gibbsite. Khu vực có hàm lượng nhôm cao nhất thường ở dưới nắp sắt. Dạng chính của nhôm hydroxit trong đá ong bôxit chủ yếu là gibbsit. Ở Việt Nam, bôxít ở Tây Nguyên được hình thành theo cách này trên nền đá bazan.
Loại có nguồn gốc dưới núi lửa có chất lượng tốt và có giá trị công nghiệp. Loại này được hình thành theo đường núi lửa và sau đó đá ong hình thành trên các lớp xen kẽ sét-cao lanh của đá cacbonat như đá vôi và đá dolomit do quá trình phong hóa dung nham núi lửa.
Thân quặng bôxit tồn tại ở 4 dạng: lớp phủ, lớp túi, lớp xen kẽ và lớp clastic

Các dạng lớp phủ lớn, được tìm thấy ở Tây Phi, Úc, Nam Mỹ và Ấn Độ, bao gồm các lớp phẳng nằm gần bề mặt và có thể kéo dài hàng km. Độ dày có thể thay đổi từ dưới một mét đến 40m, với độ dày trung bình khoảng 4-6m ở những nơi có thể chấp nhận được.
Những chiếc võng được tìm thấy ở Jamaica và Hispaniola, cũng như ở Nam Âu, và bô-xit được tìm thấy trong những chiếc võng này ở độ sâu từ dưới 1m đến hơn 30m. Trong một số trường hợp, các mụn nước này nằm tách rời nhau, trong khi ở một số trường hợp khác, các vùng sagittal chồng lên nhau và tạo thành các mảng tích tụ lớn.
Các dạng so le xuất hiện ở Hoa Kỳ, Suriname, Brazil, Guyana, Nga, Trung Quốc, Hungary và Địa Trung Hải. Ban đầu chúng nằm ở bề mặt và sau đó được bao phủ bởi các thành tạo đá sau này, thường ở dạng đá núi lửa. Kết cấu của loại quặng này thường đặc hơn các loại quặng khác vì nó bị nén bởi các thành tạo đá bên trên.
Detrital đề cập đến các trầm tích được hình thành do xói mòn bauxite (các loại trầm tích được mô tả ở trên), chẳng hạn như bauxite ở Arkansas, Hoa Kỳ.

thành phần khoáng chất

Bauxite tồn tại ở ba dạng chính, tùy thuộc vào số lượng và cấu trúc tinh thể của các phân tử nước chứa trong nó: gibbsite Al (OH) 3, boehmite γ-AlO (OH) và diaspore α-AlO (OH), cũng như các khoáng chất ôxít sắt goethit và hematit, các khoáng chất đất sét kaolinit và thường anatase titan điôxít, các sunfua đa kim loại, và các khoáng chất nặng như monazit, zircon và xenotime.

Gibbsite là nhôm hydroxit thực sự, trong khi boehmite và diaspore tồn tại ở dạng nhôm hydroxit. Sự khác biệt cơ bản giữa boehmite và diaspore là diaspore có cấu trúc tinh thể khác với boehmite và cần nhiệt độ cao hơn để tách nước nhanh chóng.

quang

Thành phần hóa học

Thành phần hóa học chính (bị khử thành oxit) là Al2O3, SiO2, Fe2O3, CaO, TiO2, MgO… Trong đó, nhôm hiđroxit là thành phần chính của quặng.

Thành phần hóa học Al2O3 Fe2O3 CaO SiO2 TiO2 MgO Khối lượng giảm khi đốt
Phần trăm khối lượng (%) 55,6 4,5 4,4 2,4 2,8 0,3 30
Ở Việt Nam, bôxit được xếp vào loại khoáng sản khi tỷ lệ giữa alumin và silica được gọi là môđun của silic (ký hiệu µsi) không nhỏ hơn 2.

sử dụng

Bauxite thường được sử dụng trong lò cao, sản xuất gang / gáo, xi măng, nhôm, phễu rót kim loại lỏng, bể ngâm nguyên liệu, lò nung, xe lôi lò cao điện…

ở Việt Nam

Có hai loại bô xít chính ở Việt Nam:

Bauxit có nguồn gốc trầm tích (biến chất một phần) tập trung ở các tỉnh phía Bắc Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Sơn Lộ và Nghệ An.
Bôxit phong hóa đá ong từ bazan tập trung ở các tỉnh phía Nam: Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương, Phú Yên, Quảng Ngãi.

Nhà xuất bản: Trường Trung cấp Sóc Trăng

Thể loại: Giáo dục

[/box]

#Công #thức #quặng #Boxit #Trường #THPT #Thành #Phố #Sóc #Trăng

[rule_3_plain]

#Công #thức #quặng #Boxit #Trường #THPT #Thành #Phố #Sóc #Trăng

[rule_1_plain]

#Công #thức #quặng #Boxit #Trường #THPT #Thành #Phố #Sóc #Trăng

[rule_2_plain]

#Công #thức #quặng #Boxit #Trường #THPT #Thành #Phố #Sóc #Trăng

[rule_2_plain]

#Công #thức #quặng #Boxit #Trường #THPT #Thành #Phố #Sóc #Trăng

[rule_3_plain]

#Công #thức #quặng #Boxit #Trường #THPT #Thành #Phố #Sóc #Trăng

[rule_1_plain]

Xem thông tin chi tiết

Nguồn:cungdaythang.com
Phân mục: Giáo dục

#Công #thức #quặng #Boxit #Trường #THPT #Thành #Phố #Sóc #Trăng

Xem thêm:

 

Dàn ý Chứng minh câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn