&quot Dạ Trạch Vương Là Ai – Dạ Trạch Vương Triệu Quang Phục (Phần 1) – bloghong.com

Giới thiệu Hoạt động chuyên môn, nghiệp vụCông tác trưng bàyTin tức Trưng bày Trưng bày chuyên đềNghiên cứu Khảo cổ họcẤn phẩmDự án BTLSQG Thông tin hữu ích Tương trợ Là một vị vua nổi tiếng trong thời kỳ đấu tranh chống ách đô hộ của phương Bắc, giành độc lập dân tộc nhưng sử sách ghi chép rất sơ lược về thân thế, sự nghiệp của Việt vương Triệu Quang đãng Phục, chính vì vậy ko mấy người được rõ về một câu chuyện tơ duyên đặc thù của ông.

Đang xem: Dạ trạch vương là ai

Xuất xứ biệt danh Dạ Trạch Vương

Associated Articles

  • Bà nguyễn phương hằng là ai? Sinh nam bao nhiêu? Bà nguyễn phương hằng là ai? Sinh năm bao nhiêu? Tháng Năm 27, 2021
  • Tiểu Sử Ca Sĩ Quang đãng Lập Bolero Là Ai, Nguyen Quang đãng Lap, Tiểu Sử Ca Sĩ Bolero Quang đãng Lập Tháng Năm 24, 2021
  • Streamer Mel Television Là Ai – Conichiwa Xin Chào Những Bạn Mình Là Mel Television Tháng Năm 24, 2021
  • Võ Cát Là Ai – Những Nhân Vật Trong Phong Thần Tháng Năm 24, 2021

Triệu Việt Vương tên thật là Triệu Quang đãng Phục, con trai của Triệu Túc, hào trưởng huyện Chu Diên (nay là vùng tiếp giáp giữa Sơn Tây và Vĩnh Phúc). Năm Nhâm Tuất (542), lúc Lý Bí phất cờ khởi nghĩa, hai cha con ông đem quân hưởng ứng và mang đóng góp tích cực trong trận đấu lật đổ ách đô hộ của giặc Lương cũng như lập nhiều công to.

Năm Giáp Tý (544), lúc nước Vạn Xuân được thành lập, Lý Bí lên ngôi hoàng đế (Lý Nam Đế) đã sắc phong cho Triệu Quang đãng Phục chức Tả tướng quân…

Tháng 5 năm Ất Tị (545), quân Lương do tướng Trần Bá Tiên và Dương Phiêu chỉ huy lại kéo xâm lược nước Vạn Xuân, muốn tái lập ách đô hộ của chúng.

Thế giặc rất mạnh, Lý Nam Đế giao chiến bất lợi, tới giữa năm Bính Dần (546), sau trận kịch chiến ở hồ Điển Triệt (nay thuộc huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc) với giặc Lương, lực lượng của Lý Nam Đế bị thiệt hại nặng, vua ngay tắp lự giao binh quyền lại cho Triệu Quang đãng Phục và rút vào vùng động Khuất Lão (nay thuộc Tam Nông, Phú Thọ) rồi sau lâm bệnh mất ở đó.

Được Lý Nam Đế tin tưởng uỷ thác trọng trách chống giặc, Triệu Quang đãng Phục đưa một phòng ban quân lính vào đóng ở đầm Dạ Trạch từ tháng giêng năm Đinh Mão (547) để cố thủ và đánh tiêu hao sinh lực địch, gây cho chúng nhiều phen khốn đốn.

*

Triệu Việt Vương tên thật là Triệu Quang đãng Phục, con trai của Triệu Túc, hào trưởng huyện Chu Diên (nay là vùng tiếp giáp giữa Sơn Tây và Vĩnh Phúc).

Đầm Dạ Trạch (bãi Màn Trò, nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) gắn ngay tắp lự với sự tích về mối duyên kỳ ngộ giữa nàng công chúa Tiên Dung, con gái của vua Hùng thứ 18 với chàng đánh cá nghèo Chử Đồng Tử.

Đầm này rộng, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa mang nền đất cao mang thể ở được, bốn mặt bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ mang thể tiêu dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào đi lướt trên cỏ nước mới mang thể vào được, nếu ko quen biết đường đi thì lạc ko biết là đâu, lỡ rơi xuống nước ngay tắp lự bị rắn độc cắn chết.

Triệu Quang đãng Phục thuộc rõ đường đi lối lại, đem hơn 2 vạn người vào đóng ở nền đất trong đầm, tiêu dùng chiến thuật du kích, ban ngày tuyệt ko để khói lửa và dấu người, ban đêm tiêu dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh doanh trại của quân Lương, cướp lương thực vũ khí, giết thịt và bắt sống rất nhiều, lấy đó làm kế cầm cự lâu dài.

Năm Mậu Thìn (548), lúc nghe tin Lý Nam Đế mất, Triệu Quang đãng Phục lên làm vua xưng là Triệu Việt Vương nhưng nhân dân vẫn quen gọi ông là Dạ Trạch Vương.

Chủ tướng giặc là Trần Bá Tiên nhiều lần tiến công vào đầm nhưng đều ko đánh được, ko còn cách nào khác, chúng đành mưu tính cầm cự lâu ngày để làm cho Triệu Việt Vương lương hết, quân mỏi mệt thì mang thể phá được.

Gặp lúc nhà Lương mang loạn Hầu Cảnh, gọi Trần Bá Tiên về dẹp loạn, ủy quyền cho tì tướng là Dương Sàn ở lại. Chớp thời cơ đó, Triệu Việt Vương tung quân ra đánh, giành được thắng lợi, quân Lương thua to rút chạy về nước.

Sử chép rằng: “Canh Ngọ (550)… Mùa xuân, tháng giêng, nhà Lương cho Trần Bá Tiên làm Uy minh tướng quân Giao Châu thứ sử. Bá Tiên lại mưu tính cầm cự lâu ngày khiến cho cho vua lương hết quân mỏi thì mang thể phá được.

Gặp lúc nhà Lương mang loạn Hầu Cảnh, gọi Bá Tiên về, ủy cho tì tướng là Dương Sàn đánh nhau với vua. Vua tung quân ra đánh. Sàn kháng cự, thua chết. Quân Lương tan vỡ chạy về Bắc. Nước ta được yên. Vua vào thành Lengthy Biên ở” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Trong sử sách, Triệu Quang đãng Phục thường được gọi là Việt Vương, nhưng Dạ Trạch Vương (vua đầm một đêm) vẫn là cách gọi gần gụi trong giai thoại dân gian của ông. Làm vua tới năm Canh Dần (570), Triệu Việt Vương bị thông gia của mình là Lý Phật Tử, em họ của Lý Nam Đế phụ lời thề giao ước, bất thần đem quân đánh.

Ông thế yếu ko thể chống được, bèn đem con gái Cảo Nương chạy về phía Nam, tìm nơi đất hiểm để ẩn náu, nhưng tới đâu cũng bị quân của Lý Phật Tử đuổi theo sát gót. Lúc hai cha con cưỡi ngựa chạy tới cửa biển Đại Nha thì bị nước chắn, cùng đường, Triệu Việt Vương rút gươm chém con gái rồi nhảy xuống biển tự vẫn.

Nhiều nơi thuộc khu vực ven biển những tỉnh Ninh Bình, Nam Định đã lập đền thờ phụng vua, trong đó đền chính được dựng ở cửa biển Đại Nha (còn mang tên khác là Đại Ác, sau đổi là Đại An), nay là cửa Liêu (cửa sông Đáy).

Từ một giấc mơ gặp được người trong mộng

Giống như những bậc vua chúa khác, Triệu Việt Vương cũng mang nhiều vợ nhưng để lại dấu ấn to nhất đối với ông chính là Đệ tứ cung phi Ngọc Nương, một người mà tơ duyên của họ tới từ trong giấc mộng.

Theo dã sử và thần tích xã Trâm Nhị (nay thuộc huyện Ân Thi, Hưng Yên) thì Ngọc Nương tên thật là Nguyễn Thị Ngọc, sinh ngày 15 tháng 7 năm Đinh Tỵ, cha là Nguyễn Bộ, vốn dòng dõi hào trưởng ở trang Bảo Đài, huyện Lôi Dương, châu Ái (nay thuộc huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa), mẹ là Đặng Thị Châu (thường gọi là Châu Nương), quê ở giáp Đường, trang Đặng Xá, huyện Đường Hào, xứ Đông Hải (nay thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên).

Tương truyền rằng một đêm bà Châu Nương nằm ngủ, mộng thấy bay lên trời, tới cung Quảng bẻ được một cành quế đỏ và hái được một bông hoa lan, giật thột tỉnh dậy biết là nằm mộng, sau đó mang thai rồi sinh được một người con trai tướng mạo hùng vĩ, khác thường đặt tên là Nguyễn Chiêu (thường gọi là Chiêu Công).

2 năm sau, bà Châu Nương lại mang mang, trước lúc chuyển dạ chợt thấy một con chim xanh bay vào trong phòng màu sắc sặc sỡ, kêu lên 3 tiếng rồi bay mất, kế đó sinh ra một bé gái xinh xẻo, đặt tên là Nguyễn Thị Ngọc (thường gọi là Ngọc Nương).

Xem thêm: Phần Mềm Giao Dịch Chứng Khoán Mbs, ‎Mstock24 Trên App Retailer

Từ nhỏ cho tới lúc trưởng thành, Chiêu Công đã nổi tiếng văn hay, võ giỏi, nhiều người theo phục; còn Ngọc Nương thông minh học một biết mười, tiết hạnh và nữ công ko gì ko mang, là một thiếu nữ nhan sắc khuynh thành.

Lại nói về Triệu Việt Vương, sau lúc quét sạch giặc ngoại xâm, ông đi thăm một số vùng miền để tìm hiểu đời sống quần chúng. Một hôm xa giá ngự tới huyện Đường Hào thì giới hạn lại ngơi nghỉ, đêm đấy, vua nằm mơ thấy mang một nam, một nữ tới nói là hai anh em ruột quê ở Bảo Đài tới xin giúp nước, anh tên là Chiêu, em tên là Ngọc.

Sáng hôm sau, Triệu Việt Vương tới giáp Đường, trang Đặng Xá thì người dân kéo tới đầy đường để bái chào và xem mặt vua, Ngọc Nương cũng tò mò ra xem. Trong đám đông đấy, vua đột nhiên nhìn thấy một cô gái dung mạo y chang người trong mộng đêm trước bèn gọi tới hỏi chuyện.

Lúc Ngọc Nương trả lời cho biết tên họ, quê quán, Triệu Việt Vương vừa vui mừng vừa sửng sốt ko rõ đây mang phải là cô gái trong giấc mơ của mình ko, ông ngay tắp lự hỏi: “Thấp nhà nàng còn mang một người anh tên là Chiêu?”.

Lúc này thì tới lượt Ngọc Nương ngạc nhiên trả lời đúng là mang người anh như vậy, nhà vua ngay tắp lự cho truyền gọi Chiêu Công tới thì thấy y chang người thanh niên trong mộng. Cho là điềm báo tốt lành, Triệu Việt Vương ban thưởng cho dân trang Đặng Xá 3.000 quan tiền và nói với mọi người rằng:

“Chiêu Công, Ngọc Nương thực là thần nhân chốn nhân gian, được trời cho giáng xuống ở đất này, nay trẫm ban thưởng cho quần chúng được làm hộ nhi nơi Chiêu Công ở”.

Sau đó, vua cho 2 người đi theo về kinh rồi phong Chiêu Công làm Quản lĩnh thủy bộ tướng quân, còn Ngọc Nương được phong làm Đệ tứ cung phi, mỹ hiệu là Xuân Hoa.

Trước lúc theo vua, 2 anh em về nhà lạy tạ cha mẹ, sửa sang nhà cửa, tặng thưởng vàng bạc cho người dân xây dựng một hành cung để mang chỗ ngơi nghỉ mỗi lúc trở lại thăm quê.

Mấy năm sau, giặc Lương cho quân xâm lấn biên giới, Triệu Việt Vương tin tưởng phong cho Chiêu Công chức Thái úy đứng đầu quan võ và kiêm chức Nguyên suý bình Lương đại tướng quân đem binh tướng chống giặc.

Tại địa đầu biên giới, Chiêu Công chỉ huy quân lính đánh bại quân xâm lược, hơn 10 tướng giặc bị chém rơi đầu, hàng nghìn tên giặc phải thiệt mạng; còn Ngọc Nương vừa phục dịch vua nơi màn trướng lại vừa động viên những họ tộc Lê, Nguyễn, Trần, Vũ, Trịnh, Phạm, Đỗ, Đặng, Hoàng, Đinh ở trang Đặng Xá đưa con em mình tòng quân giữ nước.

Sau thắng lợi, vì lập công to, Chiêu Công được Triệu Việt Vương phong tước Triết Gia quân công.

Ngoại xâm bị dẹp chưa được bao lâu thì nội chiến xảy ra, sau một thời kì chuẩn bị lực lượng, một người trong họ của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử đem quân đánh Triệu Việt Vương để giành ngôi vua về cho họ Lý.

Hai bên hỗn chiến giao tranh hàng năm trời ko phân thắng phụ, nhưng rồi nhờ quân hùng và mang những tướng giỏi như Chiêu Công, Trương Hống, Trương Hát…, lại mang móng rồng thần diệu mà Triệu Việt Vương chiếm ưu thế.

Biết ko thể thắng, Lý Phật Tử bèn tiêu dùng mưu, cho quân mang lễ vật tới xin hòa và muốn kết tình thông. Biết được ý đồ đó, Chiêu Công can vua rằng:

“Nay 2 bên tranh nước, lengthy hổ giành nhau, họ bỗng đem cống vật tới cầu hòa, sự này ko thể tin được!”, những quan tướng trong triều cũng khuyên vua nên dự phòng, nhưng Triệu Việt Vương ko nghe vẫn quyết định gả con gái Cảo Nương cho con trai của Lý Phật Tử là Nhã Lang.

Buồn phiền, Chiêu Công bèn xin cáo quan về quê dành thời kì chăm sóc cha mẹ cho tới lúc khuất núi, lại nghĩ đời mang thịnh, mang suy, xét thấy vua thì nhân từ ái mực còn Lý Phật Tử nhiều mưu mô, tất mang ngày binh đao xảy ra, vì thế ông bỏ tiền tài tuyển mộ gia thần, rèn đúc vũ khí, tích trữ lương thực phòng lúc nước mang biến sẽ dốc sức cứu giúp.

Còn Ngọc Nương, sống trong cung cấm, được vua sủng ái nhưng suốt 10 năm ngay tắp lự nhưng ko sinh được người con nào bèn xin xuống tóc tu Phật, Triệu Việt Vương biết khó giữ được người đẹp đành đồng ý cho nàng về quê gốc ở trang Bảo Đài, huyện Lôi Dương, châu Ái tu hành tại một ngôi chùa.

Ít lâu sau, vua lại cấp tiền nong cho Ngọc Nương sửa sang ngôi chùa ở giáp Đường, trang Đặng Xá để làm nơi tu hành, lại còn truyền đặt pháp hiệu là Diệu Phương, tên tự là Pháp Tuân.

Năm Canh Dần (570), Triệu Việt Vương do chủ quan ko phòng bị, lúc quân của Lý Phật Tử tiến đánh đã thua trận nhanh chóng, ông chạy tới cửa biển Đại Nha thì tự tử.

Bấy giờ Chiêu Công nghe tin vua thua trận vội vã dẫn sắp 2000 quân binh tới cứu giá, tới nơi thì nghe tin Triệu Việt Vương đã mất lại bị số đông quân của Lý Phật Tử phong toả, thế lực yếu ko thể chống đỡ nổi, Chiêu Công ngay tắp lự gieo mình xuống sông Hồng tuẫn tiết. Cảm động về vị trung thần tiết nghĩa, sau này, nhân dân đã lập đền thờ Chiêu Công nay tại nơi ông mất.

Còn Ngọc Nương, dù ở chốn cửa thiền, xa rời cuộc sống trần tục nhưng bà vẫn ưa chuộng tới tình hình giang sơn, nghe tin chồng rồi anh đều mất, lòng đau xót vô cùng bèn tắm gội sạch sẽ, ngồi tụng kinh niệm Phật sau đó uống thuốc độc tự vẫn mà chết, người dân giáp Đường tiếc thương người phụ nữ trung trinh đã tổ chức mai táng chu đáo, lại dựng miếu thờ cúng.

Tới thời Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân mang làm lễ khấn tại nơi thờ anh em Chiêu Công, Ngọc Nương xin âm phù thắng trận thấy linh ứng.

Xem thêm: mấy ngày nay tiếng anh là gì

Sau lúc nhà Đinh thành lập, tướng Đinh Điền dâng sớ tâu xin phong mỹ tự cho 2 thần, vua Đinh Tiên Hoàng đã sắc phong cho Chiêu Công làm Thượng đẳng phúc thần, hiệu là Phong Hiển linh ứng thông, Chiêu Thánh đô úy khang tiết đại vương; Ngọc Nương là Đoan Trinh quảng đức Diệu Phương, Pháp Tuấn từ bi Xuân Hoa công chúa”.

READ Câu Nói Ta Thà Làm Ma Nước Nam Còn Hơn Làm Vương Đất Bắc Là Của Ai