Bài giải, đề thi môn Văn THPT quốc gia 2016 – Tuyển sinh 2021 – bloghong.com

'Đề Văn 2016 hay vì liên quan giá trị nhân văn con người' Đó là nhận xét của thạc sĩ Nguyễn Thị Thủy Anh – Tổ trưởng tổ Xã hội, trường THPT Việt Úc (Hà Nội) – về đề Văn THPT quốc gia sáng nay.

Đề thi môn Ngữ văn THPT quốc gia năm 2016:

De van 2016 anh 1 De van 2016 anh 2

Gợi ý lời giải môn Ngữ văn THPT quốc gia 2016:

Bài giải do Thạc sĩ Nguyễn Thị Thủy Anh – Tổ trưởng tổ Xã hội, trường THPT Quốc tế Việt Úc (Hà Nội) và Thạc sĩ Phí Thị Phương Thanh – Nhóm trưởng nhóm Văn, trường THPT Quốc tế Việt Úc (Hà Nội) thực ngày nay tòa soạn bloghong.com.

Phần I: Đọc hiểu

Câu 1:

Sự mượt mà và tinh tế của Tiếng Việt được thể hiện ở những từ ngữ sau:

Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ, tiếng Việt như bùn và như lụa, óng tre ngà và mềm mại như tơ.

Câu 2:

Hai giải pháp tu từ: So sánh và ẩn dụ

– So sánh: tiếng tha thiết nói thường nghe như hát, Như gió nước ko thể nào nắm bắt.

– Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối.

Câu 3:

Nội dung chính của đoạn trích:

Đoạn trích thể hiện sự mượt mà và tinh tế của tiếng Việt. Qua đó phân trần niềm tự hào của tác giả Lưu Quang đãng Vũ về vẻ đẹp và giá trị của tiếng nói dân tộc.

Câu 4:

Từ đoạn trích phân trần cảm tưởng của mình về tiếng Việt:

Tiếng Việt là tiếng nói chính để tạo ra bản sắc riêng của dân tộc, là thành tựu đáng tự hào của người Việt Nam trong suốt 4000 năm dựng nước và giữ nước. Tiếng Việt của chúng ta mượt mà, tinh tế, giúp chúng ta ko chỉ giao tiếp mà còn phân trần tiếng nói, tâm tư, tình cảm.

Hơn nữa, tiếng nói là một phần khẳng định chủ quyền độc lập của Tổ quốc ta. Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh, tổ tông ta đã giữ gìn tiếng mẹ để tới hôm nay. Vì thế chúng ta cần trân trọng, phát huy chiếc hay và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Câu 5:

Phương thức diễn tả chính: nghị luận.

Câu 6:

Vẻ ngoài mặt đẹp đẽ của “cuộc sống riêng ko biết gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà mình” thể hiện rõ nhất qua hình ảnh so sánh: “một cuộc sống nghèo nàn, giống như một mảnh vườn được chăm sóc kỹ lưỡng đầy hoa thơm sạch sẽ và gọn ghẽ”.

Câu 7:

Tác giả cho rằng: “Số phận của những chiếc tuyệt đối cá nhân, ko bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng với gì đáng thèm muốn” vì cuộc sống của những cá nhân như vậy sẽ nghèo nàn, nhàm chán với một hạnh phúc phong phanh.

Đó là một cuộc sống thiếu khát vọng, ko với sự khẳng định, dấu ấn cá nhân, chỉ an toàn trong một “mảnh vườn” sạch sẽ, gọn ghẽ. Cuộc sống khép kín sẽ làm cho con người trì trệ, khó thích ứng lúc bị giông bão tràn tới, và hơn nữa sẽ làm cho ta chìm trong đơn chiếc, buồn phiền, chán nản.

Câu 8:

Cuộc sống của con người lúc thoát ra khỏi “chiếc tuyệt đối cá nhân”:

– Lúc thoát ra khỏi cuộc sống cá nhân êm đềm, bằng phẳng trong ngưỡng cửa nhà mình, con người sẽ vươn ra thế cục rộng to bên ngoài ngưỡng cửa. Đó là một cuộc sống nhiều thử thách, phong ba nhưng là một cuộc sống thực sự mà mỗi người cần vươn tới: “Đời phải trải qua giông tố nhưng ko được cúi đầu trước giông tố”.

– Con người sẽ phải đối mặt với hắc búa, khó khăn nhưng đó sẽ là thời cơ để con người khẳng định năng lực, bản lĩnh, khát vọng, ước mơ của mình.

– Lúc được trải nghiệm, dấn thân: con người sẽ mạnh mẽ, kiên cường, dũng cảm hơn. Đó là yếu tố rất quan yếu để chạm tới thành công.

– Cuộc sống thử thách với nhiều khát vọng sẽ cho mỗi người cảm nhận được giá trị thực sự của cá nhân mình: “Hãy luôn khát khao, hãy cứ khờ dại”.

Phần II: Làm văn

Câu 1:

Về hình thức: 0,5 điểm

– Đảm bảo cấu trúc của bài nghị luận: với đủ ba phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài giới thiệu được vấn đề (giới thiệu ý kiến và tổng thể vấn yêu cầu luận), thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

– Dung lượng: Bài viết khoảng 600 chữ.

– Chính tả, tiêu dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, tiêu dùng từ, đặt câu.

Về sáng tạo: 0,25 điểm

Với cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn yêu cầu luận.

Về nội dung:

– Xác định đúng vấn yêu cầu luận: Hậu quả của sự hèn nhát và sức mạnh của dũng khí. (0,5 điểm)

– Triển khai vấn yêu cầu luận thành những luận điểm, vận dụng tốt những thao tác lập luận, phối hợp chặt chẽ giữa lý lẽ và dẫn chứng, rút ra bài học nhận thức và hành động.

Cụ thể như sau:

1. Mở bài:

– Giới thiệu vấn đề: Trong cuộc sống, hèn nhát và dũng cảm là hai nét tính cách luôn track track tồn tại. Làm thế nào để thắng lợi được sự hèn nhát và rèn luyện được dũng khí, đó luôn là sự trằn trọc trong suốt thế cục của mỗi người.

– Giới thiệu nhận định: Bàn về điều này, đã với nhận định “Sự hèn nhát làm cho con người tự đánh mất mình, còn dũng khí lại giúp họ được là chính mình”

2. Thân bài:

a. Giảng giải ý kiến: (0,25 điểm)

– Sự hèn nhát: là trang thái luôn sợ hãi, nhút nhát, ko dám đối mặt với những biến động của cuộc sống, những khó khăn phát sinh trong nghịch cảnh mà chỉ co mình trong sự an toàn.

– Dũng khí: là lòng dũng cảm, bản lĩnh, khí chất, nội lực và sức mạnh bên trong của con người. Nó thể hiện ở khát khao vươn tới những điều to lao và chinh phục những khó khăn của cuộc sống.

– Tự đánh mất mình: ko còn là mình, là hậu quả của sự hèn nhát. Đó là lúc con người sống mờ nhạt, ko khẳng định được dấu ấn cá nhân, năng lực bản thân và ko với sự đóng góp cho xã hội.

– Được là chính mình: là lúc con người sống đúng với khả năng, khát vọng, ước mơ của bản thân và phát huy được sở trường, sức mạnh của cá nhân, với được những đóng góp tích cực cho xã hội.

-> Nội dung của ý kiến: chỉ ra hậu quả của sự hèn nhát và vai trò, sức mạnh của dũng khí. Từ đó, câu nói nhắn nhủ chúng ta cần thắng lợi được sự hèn nhát và sống mạnh mẽ, bản lĩnh để khẳng định dấu ấn cá nhân của mình trong thế cục.

b. Bàn luận ý kiến: (1,25 điểm)

Khẳng định thái độ sống được nêu ra trong câu nói là đúng hay sai, tối ưu hay ko tối ưu. Phân bua thái độ, suy nghĩ về ý kiến bằng những lý lẽ, dẫn chứng ưa thích, với sức thuyết phục.

Đây là một ý kiến đúng đắn, sâu sắc và đáng để suy ngẫm.

– Hậu quả của sự hèn nhát: làm cho con người tự đánh mất mình:

+ Lúc hèn nhát, con người sẽ ko dám thể hiện năng lực cá nhân, từ đó sẽ mất đi nhiều thời cơ để thành công trong cuộc sống.

+ Người hèn nhát sẽ ko dám phân trần ý kiến của cá nhân mà thường lặng lặng trong sự an toàn. Điều đó làm cho con người dễ bị dụ dỗ, sa ngã hoặc tiếp tay cho chiếc xấu, chiếc ác.

+ Những người hèn nhát: ko với ước mơ, khát vọng nên cuộc sống sẽ tẻ nhạt, tầm thường.

+ Sống hèn nhát sẽ làm cho con người thiếu đi sức mạnh, bản lĩnh để đối mặt và vượt qua những hắc búa, thử thách và dễ bị gục ngã, thất bại.

+ Người hèn nhát ko dám đấu tranh, lặng lặng, làm ngơ trước chiếc xấu, chiếc ác chẳng khác nào tiếp tay cho chiếc xấu và chiếc ác.

– Vai trò, sức mạnh của dũng khí:

+ Giúp con người sống mạnh mẽ, bản lĩnh, tự tín.

+ Người với dũng khí sẽ chủ động đối diện với khó khăn, thử thách và luôn tìm được cách để thắng lợi hoàn cảnh, từ đó đạt tới thành công.

+ Dũng khí sẽ giúp cho con người với thể vượt qua những cám dỗ của cuộc sống để giữ gìn phẩm chất tốt đẹp của bản thân, ko bị tha hoá vì hoàn cảnh.

+ Giúp cho con người vươn tới những điều to lao, tốt đẹp trong cuộc sống, thực hiện được ước mơ và khát vọng của bản thân.

+ Người dũng cảm dám đấu tranh với chiếc xấu, chiếc ác, sự bất công để bảo vệ lẽ công bằng, lẽ phải trong cuộc sống, với những đóng góp tích cực cho xã hội.

c. Bài học nhận thức và hành động: (0,25 điểm)

– Câu nói giống như một kim chỉ nam về tư tưởng và hành động, giúp cho mỗi người nhận thức được hậu quả của sự hèn nhát và vai trò của dũng khí trong việc khẳng định những nhân.

Từ đó, mỗi chúng ta sẽ rèn luyện cho mình lòng dũng cảm, sự mạnh mẽ để đối mặt và thắng lợi được những hắc búa, thử thách trong cuộc sống.

– Liên hệ cá nhân: vai trò của câu nói với cá nhân của mỗi người.

3. Kết bài: Tổng thể lại vấn đề

Mỗi người hãy vượt qua nỗi sợ hãi của bản thân và cách sống “trong bao” để mạnh mẽ, dũng cảm, dấn thân và trải nghiệm những điều kỳ diệu của cuộc sống. Lúc đó bạn sẽ cảm nhận được giá trị của cá nhân mình trong biển đời mênh mông.

Câu 2:

Về hình thức: 0,5 điểm

Đảm bảo cấu trúc của bài nghị luận: với đủ ba phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

Chính tả, tiêu dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, tiêu dùng từ, đặt câu.

Về sáng tạo: 0,5 điểm

Với cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn yêu cầu luận.

Về nội dung:

Xác định đúng vấn yêu cầu luận: (0,5 điểm)

Phân tích tình huống truyện của tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân để làm sáng tỏ ý kiến: Trong truyện ngắn vợ nhặt nhà văn Kim Lân đã xây dựng được một tính huống thất thường để nói lên khát vọng thường nhật mà chính đáng của con người.

Triển khai vấn yêu cầu luận thành những luận điểm, thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt những thao tác lập luận, phối hợp chặt chẽ giữa lý lẽ và dẫn chứng.

Cụ thể như sau: (2,5 điểm)

1. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả Kim Lân, tác phẩm “Vợ nhặt”: Kim Lân thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam tiên tiến. Ông là cây bút “một lòng đi về với đất với người, với thuần phác nguyên thủy ở nông thôn Việt Nam”.

Ông thường viết về nông thôn và những con người dân quê, lam lũ hồn hậu, chất phác mà giàu tình yêu thương. “Vợ nhặt” là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông.

– Giới thiệu nhận định: Trong truyện ngắn vợ nhặt nhà văn Kim Lân đã xây dựng được một tính huống thất thường để nói lên khát vọng thường nhật mà chính đáng của con người.

– Giới thiệu vấn yêu cầu luận: Ý kiến trên đã chỉ ra chiếc hay của tình huống truyện trong tác phẩm “Vợ nhặt”.

2. Thân bài:

– Tổng thể truyện “Vợ nhặt”: “Vợ nhặt” được coi là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân. Tiền thân của truyện vốn là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” (cuốn tiểu thuyết được viết ngay sau Cách mệnh tháng Tám nhưng dang dở và thất lạc bản thảo).

Hoà bình lập lại, Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này. “Vợ nhặt” mang dấu ấn của cả một quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kỹ lưỡng về nghệ thuật.

Với “Vợ nhặt”, Kim Lân bộc lộ một ý kiến nhân đạo sâu sắc của mình. Nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kỳ diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt, trong bất kỳ hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên chiếc chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hy vọng vào ngày mai. Tiêu biểu cho những con người đó là nhân vật Tràng.

– Giảng giải ý kiến:

+ Tình huống thất thường: Là tình huống đặc trưng, mang tính nghịch cảnh, ngang trái, trớ trêu được tạo dựng trên cơ sở những mâu thuẫn.

+ Khát vọng thường nhật: Khát vọng là những mong muốn mãnh liệt mang tính nhân văn, thực chất trong mỗi con người. Đó là quyền sống, mưu cầu hạnh phúc và được sống cho ra sống.

– Tình huống nghệ thuật thất thường trong truyện ngắn:

+ Tình huống xuất hiện ngay từ nhan đề: Nhan đề ấn tượng sâu sắc, kích thích trí tò mò, quan tâm của người đọc, hé mở tình huống đặc sắc của tác phẩm.

Nhặt là một động từ chỉ những hành động tình cờ, thờ ơ, ko chủ ý để lấy một vật gì đó thường là từ dưới đất lên, một vật hoặc quá nhỏ bé nên ko ai để ý hoặc ko còn giá trị nên bị người ta vứt bỏ.

Vợ là một phần quan yếu của thế cục người đàn ông, lấy vợ là một trong những việc to của đời người, một việc thường được thực hiện theo phong tương truyền thống của ng Việt với những bước mai mối, dạm hỏi, cưới xin… trọng thể.

Nhưng với từ nhặt làm định ngữ vợ nhặt đã làm cho ng đọc phần nào suy đoán được giá trị của ng vợ lúc được nhặt về chẳng khác nào cỏ rác; cũng song song mường tượng được tình cảnh của ng chồng lúc một việc to lao, trọng đại của đời ng lại được thực hiện bởi một hành động tình cờ, thờ ơ và ko chủ ý như vậy.

Tóm lại, nhan đề hàm chứa sự mâu thuẫn, ngang trái đã góp phần thể hiện những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc cho tác phẩm, giúp nhà văn phản ánh tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của những ng nông dân nghèo trong nạn đói năm 1945.

+ Tình huống được tạo dựng trên cơ sở những mâu thuẫn, trớ trêu được đẩy tới tận cùng giới hạn. Sự trớ trêu trước nhất xuất hiện ở nhân vật Tràng – chủ thể của hành động nhặt vợ.

Tràng là người mà ngay trong hoàn cảnh thường nhật cũng ít với khả năng lấy được vợ – hắn là dân ngụ cư với địa vị lép vế trong làng xã, lại nghèo khổ, xấu xí, thô kệch và tương đối dở tính. Vậy mà Tràng lại lấy được vợ, thậm chí nhanh chóng, dễ dàng tới mức chính hắn cũng ko tin nổi. Sự trớ trêu thứ hai đặt ra ở hoàn cảnh nhặt vợ của Tràng.

Hôn nhân là biểu tượng của cuộc sống gia đình, của sự sinh con đẻ chiếc, của sự sống. Vậy mà việc nhặt vợ của Tràng lại diễn ra vào thời khắc kinh khủng nhất của nạn đói Ất Dậu, lúc xóm ngụ cư của Tràng bao trùm ko khí chết chóc lạnh lẽo.

Tình huống ngang trái đã được tạo ra bởi sự đối đầu khốc liệt giữa sự sống và chiếc chết, giữa hạnh phúc và khổ đau, giữa hy vọng và vô vọng, giữa rét mướt của tình người với lạnh lẽo thê lương của chết chóc…

Tình huống trớ trêu đó đã gây ngạc nhiên cho tất cả mọi người dân: xóm ngụ cư thì thầm phỏng đoán, bà cụ Tứ ko tin nổi vào mắt và tai mình; và ngay cả Tràng cũng ngờ ngợ, sững sờ như đang trong một giấc mơ.

– Giá trị của tình huống:

+ Làm cho câu chuyện trở thành quyến rũ và góp phần xúc tiến cốt truyện phát triển.

+ Giúp nhà văn phản ánh trung thực bức tranh hiện thực của làng quê: cảnh xóm ngụ cư ngập tràn âm khí là hình ảnh thu nhỏ của xã hội Việt Nam trong nạn đói 1945.

Bề sâu của hiện thực là chiếc đói làm cho giá trị của con người trở thành rẻ rúng, những điều đẹp đẽ thiêng liêng như hạnh phúc gia đình – một đám cưới trở thành bi hài, chua chát.

Đói khát làm cho con người thay đổi và bị hủy hoại từ hình hài tới tư cách, con người ko được sống cho ra con người. Tràng và thị nên vợ nên chồng chỉ bằng một câu hò vu vơ và bốn bát bánh đúc.

+ Giá trị của tình huống truyện đặc trưng đã thể hiện những nét sâu đậm nhất của tư tưởng nhân đạo trong việc khẳng định, ngợi ca, trân trọng những khát vọng thường nhật mà chính đáng của con người. Điều này được bộc lộ được vẻ đẹp phẩm chất của nhân vật qua diễn biến tâm trạng và hành động của họ trước việc Tràng nhặt vợ:

~ Tình huống truyện đã cho thấy chiếc đói và chiếc chết ko làm con người ta mất đi lòng nhân ái: thể hiện trong việc nhặt vợ của Tràng – san sẻ miếng ăn với người xa lạ, đói khát; trong cách Tràng đối xử và suy nghĩ về người phụ nữ đi theo mình đầy yêu thương ko hề rẻ rúng.

Đặc trưng là sự xử sự và nỗi niềm của bà cụ Tứ với người con dâu. Chấp nhận người phụ nữ xa lạ, coi là dâu là con, lo lắng, yêu thương, san sẻ với người khác trong hoàn cảnh khốn cùng là biểu hiện cao nhất của ý thức lá lành đùm lá rách.

~ Tình huống truyện giúp người đọc nhận ra khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người ko bị mất đi mà mãnh liệt hơn bao giờ hết: Tràng quyết định nhặt vợ sau một thoáng phân vân do dự, cảm giác mới mẻ hạnh phúc, trạng thái êm ái lửng lơ trong lòng Tràng sau lúc với được vợ.

Khuôn mặt rạng rỡ chung vui của người dân xóm ngụ cư. Nét mặt nhẹ nhõm, tươi tỉnh của bà cụ Tứ. Thị theo Tràng về nhà lúc đầu vì miếng ăn nhưng lúc biết gia đạo thực sự của Tràng, thị đã ko hề chạy trốn mà ở lại và mang lại sinh khí cho gia đình đó, bản thân thị cũng trở lại hình ảnh một người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, vợ hiền dâu thảo…

Tất cả là biểu hiện rõ nhất của niềm khát khao hạnh phúc mang tính bản năng, túc trực bị khuất lấp bởi chiếc đói đã xuất hiện một cách đầy bất thần. Chính khát vọng hạnh phúc lại mang tới cho họ sức mạnh vượt lên trên chiếc đói và chiếc chết.

~ Tình huống truyện đã khẳng định đói, khát ko làm con người mất đi hello vọng vào một tương lai tươi sáng, tốt đẹp: Những câu nói đầy lạc quan của bà cụ Tứ với đôi vợ chồng trẻ; Tràng sắm hai hào dầu thắp sáng gian nhà trong đêm tân hôn nhưng cũng là sua tan bóng tối ngập đầy trong truyện ngắn; cảnh thu dọn nhà cửa vào sáng hôm sau… là những khía cạnh cho thấy những người lao động đói khổ ko bao giờ bị quan vô vọng mà tràn đầy lạc quan tin tưởng để sống và yêu thương.

~ Đặc trưng, hình ảnh là cờ bay phơ phới trong tâm trí Tràng ở cuối truyện đã khẳng định vững chắc những khát vọng thường nhật mà chính đáng của con người trong tình huống thất thường ko hão huyền, viển vông, là tín hiểu vững chắc đã và sẽ hiện hữu.

– Tổng thể lại: Khẳng định ý kiến đã chỉ rõ những ý nghĩa sâu sắc của tình huống truyện.

3. Kết bài:

“Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, là tác phẩm giàu giá trị hiện thực, nhân đạo; là bài ca về khát vọng sống và khát vọng hạnh phúc ở những người nghèo khổ, tụng ca niềm tin bất tử vào tương lai tươi sáng của con người.

Truyện xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tràng, một người lao động nghèo khổ mà rét mướt tình thương, niềm hello vọng, lạc quan qua cách dựng tình huống truyện và dẫn truyện độc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lý tinh tế, làm cho tác phẩm mang chất thơ cảm động và quyến rũ.

De van 2016 anh 3 Những thầy giáo giải đề thi Ngữ văn tại tòa soạn bloghong.com. Ảnh: Hoàng Hà.

Sự hèn nhát vào đề Văn THPT quốc gia 2016 Sau 9h30 sáng 2/7, nhiều thí sinh thi Ngữ văn đã rời khỏi phòng thi sớm. Một số em cho biết rất hứng thú với câu nghị luận xã hội về "sự hèn nhát làm cho đánh mất bản thân".