Bàn về khuynh hướng tư tưởng của danh y Lê Hữu Trác

lehuutrac

Lê Hữu Trác là thầy thuốc, bốc thuốc chữa bệnh cho người, Ông rất rõ hệ thống y lý liên quan tới thế giới chung của con người. Bởi trong lịch sử văn minh loài người, y khoa là một trong những khoa học truyền thống quan hệ mật thiết nhất với sự sinh tồn và phát triển.

Trong thực tiễn đấu tranh với bệnh tật, những nhà Đông y khoa đều nhận thấy hệ thống Đông y gắn bó mật thiết với Nho học, đặc thù là Kinh dịch. Đúng như Trương Cảnh Nhạc, nhà y khoa nổi tiếng đời Minh, đã nói: "Ko biết dịch, ko đủ để nói thái y". Cho nên từ xưa tới nay, mọi người đều cho rằng "y và dịch tương thông".

Lê Hữu Trác nói: "Phàm những người học thuốc tất phải hiểu thấu lý luận đạo Nho thì học thuốc mới dễ” (Y huấn cách ngôn). Ông cho rằng nghề y thực hiện chức năng của nghiệp Nho: "Sách thuốc làm ra tuy để dạy chữa bệnh, tune nó bao quát cả công trình phò vua, giúp nước" (Tựa Y tông tâm tĩnh). Song song, Ông thấy lý luận Kinh dịch với tác dụng chỉ đạo lý luận Đông y. Thuyết lí Đông y vận khí tương thông với khí quẻ (quái khí), nhất là, tác dụng chỉ đạo của triết lí âm dương, ảnh hưỏng tư duy lý luận của Chu dịch đối với Đông y rất to. Trương Cảnh Nhạc đã từng chỉ rõ rằng: "Dục cai y dịch, lý chỉ âm dương" (Muốn nên y dịch, lý lẽ chỉ với âm dương).

Âm dương ko chỉ là vong linh của Chu dịch mà còn là lý luận của Đông y và trung tâm tư tưởng của thực tiễn, vận dụng rất rộng ở trong những lĩnh vực của Đông y. Từ nhận thức đó và từ sự quan sát người bệnh, Lê Hữu Trác cho rằng thân thể con người và sự vật phải giữ âm dương ở thế thăng bằng thì mới với thể phát triển được thường nhật. Tức là, thầy thuốc phải điểu hòa được âm dương cho người bệnh; Ông nói: "Dương làm hại âm thì tinh huyết khô cháy, âm làm hại dương thì thẩn khí lặng tắt. Phàm mọi bệnh sinh ra ko một bệnh nào ko phải vì âm dương hại nhau mà mất điều hòa, "Phàm trăm bệnh của người ta ko gì là ko do âm dương chệch nhau, điều đó quan hệ tới sống chết", "Âm dương cốt thăng bằng, ko nên thiên lệch về một bên. Thủy hỏa trong thân thể con người ta cũng như là mẫu cân, nếu bên này nặng thì bên kia nhẹ, nếu bên này nhẹ thi bên kia nặng. Phương pháp chữa bệnh là, nếu bên kia nặng thì bổ cho bên này, nếu bên này nặng thì bổ cho bên kia, quyết ko thể sai nhau một ly thì mới thăng bằng" (Y hải cẩu nguyên).

Lê Hữu Trác còn ưa chuộng tới vấn đề thể xác và ý thức. Theo Ông, thể xác quyết định ý thức, tinh thần phụ thuộc vào thể xác, tư tưởng tình cảm với nguồn gốc thân thể sống. Lập trường đó của Ông là lập trường duy vật, Ông nói: "Thất tình (buồn, vui, mừng, giận, yêu, ghét, dục vọng) là thuộc loại vô hình, nhưng cũng do hữu hình mà ra. Mặt khác, ý thức cũng tác động lại thể xác, ý thức thái quá cũng gây bệnh cho thân thể. Thất tình bị tác động thái quá làm cho nguyên khí ở trong bị thương hóa thành bệnh, bệnh phát ra là do ngũ tạng bị hư, khí bị trệ lại ko lưu thông thành ra thực" (Y gia quan miện), "Quá mừng thì hại tâm mà sinh ra ý thức xốc nổi, mạch toán loạn, giận quá thì tổn thương can" (Y gia quan miện), từ đó Ông chủ trương bổ thần, tức là giữ cho tư tưởng được ổn định, yên tĩnh…

Do chức năng nghề nghiệp của ông phải đối diện với những vấn đề: sống, chết, mệnh hệ, sinh con trai hay con gái, Ông dứt khoát loại bỏ quan niệm mệnh trời và khẳng định là do sức người. Ông nói: "Sức người ta với thể thay được số trời, tương lai chưa đoán trước được thế nào" (Thượng kinh ký sự). Ông giảng giải một cách duy vật: "Đàn ông nếu sáu mạch hồng dạt, mạch xích với lực, thì sinh nhiều trai ít gái, nếu sáu mạch trầm tế, mạch xích trầm, yếu thì sinh trai ít gái nhiều, hoặc sinh trai thì con đó chết non, đó là kinh nghiệm đã nhiều, huống chi hai thần (âm và dương) cùng giao ước, hợp lại thành hình" (Phụ đạo xán nhiên), "Người ta đã bẩm thụ ở tự nhiên thì ko ngoài được lý lẽ âm dương, cho nên dương nặng thì sinh nhiều trai, âm thịnh thì sinh nhiều gái" (Phụ đạo xán nhiên).

Qua đó, ta thấy Ông với tư duy thực tế và sáng tạo, hạn chế được tư tưởng mệnh trời, phát huy năng lực của sức người chữa trị cho bệnh nhân.

Hơn nữa, Ông xuất phát từ thực tế để tìm nguồn gốc của bệnh. Ông cho rằng, thời tiết khác thì cách chữa cũng phải khác: "Ko nên quá câu nệ vào thuyết vận khí vì bệnh phát sinh do cả nguyên nhân bên ngoài, cảm nhiễm tùy theo thời tiết", "Nói tới vận khí thì phải tùy cơ ứng biến, tức là trước phải theo khí hậu từng năm, nếu năm đó mưa nhiều thì bệnh phần nhiều do thấp, phải sử dụng loại thuốc cay, đắng, ấm" (Vận khí bí điển). Thể trạng khác thì bài thuốc cũng phải khác. Xem thể trạng của Trịnh Căn, Ông nói: "Tôi thấy thánh thể gầy, mạch lại tế, xác. Thế là âm dương đều tổn hại, nay phải sử dụng phương thuốc thật bổ để bồi dưỡng tỳ và thận, cốt giữ mẫu cơ bản tiên thiên và làm nguồn gốc cho mẫu hậu thiên" (Thượng kinh ký sự).

Tóm lại, ý kiến chữa bệnh của ông là: thời tiết khác, phong thổ khác, thời đại khác, thể trạng khác thì cách chữa bệnh cũng khác.

Đạt được những thành tựu trên là do mẫu tâm của ông xoành xoạch vì con người, vì sự sống còn của con người. Đấy là điều Ông khác với những nhà nho đương thời, Ông ko màng lợi danh, học Nho thi đỗ, làm quan, hưởng bổng lộc. Vốn xuất thân trong gia đình nhà nho, với cha đỗ Tiến sĩ, Ông thấu hiểu lẽ sống ở đời, càng hiểu rõ đạo làm người, sống ko lụy vào danh, Ông nói: "Cây kia với hoa nên người ta hái; người ta với mẫu hư danh nên phải lụy chữ danh. Ví bằng trốn mẫu danh đi với thú hơn ko?" (Thượng kinh ký sự). Ông mong tiêu diêu vui thú trong mẫu vườn đạo lý của Hoàng đế, Kỳ Bá" (Thượng kinh ký sự), "Could sao, lời thề núi cũ ko quên, tuy thân mắc vào vòng lợi danh, nhưng vẫn ko bị lợi danh mê hoặc. Ra đi thung dung, trở về ngất ngưởng. Lại về núi cũ. Lại nằm yên trên đá, lại ngủ dưới hoa!" (Thượng kinh ký sự).

Lê Hữu Trác đã trở về ở với gia đình, quê hương, thôn ấp, sống ở quê mẹ. Người đương thời cho đó là ở ẩn, Ông ko hề dao động, vui với cuộc sống ẩn dật suốt đời. Đối với Ông, ở ẩn là để từ quan, là để chữa bệnh cứu người, cứu đời theo tư tưởng duy vật và biện chứng tương đối đơn thuần của thuyết âm dương ngũ hành. Đấy là thể hiện đạo làm người của ông, cho nên lúc Quận Huy gọi Ông lên Kinh để chữa bệnh cho Thế tử, là dịp được bổ nhiệm vào chức vụ quan yếu trong triều, nhưng Ông ăn năn: "Tôi chỉ ăn năn, sao mình đã đi ở ẩn mà còn chưa ẩn cho kín" (Thượng kinh ký sự). Đây thật là một tư tưởng hiếm với ở những nhà nho đương thời./.

Tài liệu tham khảo

1. Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007.

2. Nguyễn Quang quẻ Ngọc (cb), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002.

3. Lê Văn Quán, Lịch sử tư tưởng chính trị – xã hội Việt Nam thời kỳ Lê – Nguyễn, Nxb Chính trị quốc gia – sự thực, Hà Nội, 2013.