Mâu thuẫn công thức chung và hàng hóa sức lao động – Tất cả các quốc gia trên thế giới đều đang vận – StuDocu

Tất cả các quốc gia trên thế giới đều đang vận động phát triển không ngừng trong tiến
trình diễn ra của dòng thời gian và lịch sử. Nhìn lại những gì mà nền kinh tế thế giới đã,
đang đạt được chúng ta không thể phủ nhận rằng trong khi hầu hết các nước xã hội chủ
nghĩa như nước ta đang gặp khó khăn, phát triển chậm chạp thì các nước tư bản chủ
nghĩa lại đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển đất nước với tốc độ phát triển
chóng mặt ở tất cả các lĩnh vực mà xuất phát điểm là từ sự phát triển của nền kinh tế: kĩ
thuật và công nghệ bỏ xa chúng ta hàng chục năm, năng suất lao động cao, phân công lao
động và chuyên môn hoá rõ rệt, lực lượng sản xuất đã đạt được trình độ xã hội hoá cao…
C. Marx đã nghiên cứu và tìm ra nguyên nhân của sự phát triển: Đâu là quy luật vận động
của phương thức sản xuất tư bản , cái gì là bí mật và thực chất của sản xuất hàng hoá tư
bản, điều gì là động lực cho kinh tế tư bản chủ nghĩa? _ Đó chính là quy luật giá trị thặng
dư và sự vận dụng quy luật giá trị thặng dư trong phát triển hàng hoá tư bản chủ nghĩa.

Trước tiên ta phải hiểu : Quy luật giá trị thặng dư là gì? V.Iênin đã đánh giá rất cao quy
luật này. Ông coi quy luật giá trị thặng dư là hòn đá tảng trong toàn bộ học thuyết kinh tế
của Marx và học thuyết kinh tế của Marx lại là nội dung căn bản của chủ nghĩa Marx. Vì
vậy, nó chứng tỏ quy luật giá trị thặng dư có một vai trò to lớn trong lý luận của chủ
nghĩa Marx. Chủ nghĩa tư bản đã vận dụng quy luật giá trị thặng dư trong nền sản xuất
hàng hoá tư bản bởi tác dụng của quy luật này. Việc tạo ra giá trị thặng dư chính là động
lực kích thích kĩ thuật tiến bộ, phân công lao động xã hội sâu sắc, lực lượng sản xuất phát
triển không ngừng, khối lượng của cải vật chất tạo ra rất lớn, năng suất lao động nâng
cao, nền kinh tế phát triển hiện đại. Các nước tư bản sở dĩ có bước tiến xa vượt bậc như
vậy là do họ đã vận dụng triệt để quy luật giá trị thặng dư. Việc tìm hiểu bí mật và thực
chất của nền sản xuất hàng hoá tư bản: quy luật giá trị thặng dư là cần thiết và quan trọng.

Giá trị thặng dư được tìm hiểu đầy đủ thông qua cả mặt chất và mặt lượng. Nghiên cứu
quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư sẽ cho thấy bản chất của nó.

Trong sản xuất hàng hoá, nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất là tiền vì mọi quan hệ mua
bán trao đổi giao dịch đều được thực hiện thông qua đồng tiền. Tất cả các tư bản đều biểu
hiện dưới hình thái một số tiền mặt nhất định. Điều này dễ dẫn đến sự lầm tưởng mọi

đồng tiền bỏ ra đều là tư bản. Bản thân tiền không phải là tư bản. Tiền chỉ biến thành tư
bản khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động của người khác. Với tư cách là tiền
thông thường, nó được dùng làm vật ngang giá chung, làm môi giới trong mua và bán
hàng hoá. Tiền đơn giản chỉ là phương tiện của lưu thông hàng hoá giản đơn. Nhưng với
tư cách là tư bản, nó được thể hiện rõ trong công thức của lưu thông hàng hoá tư bản chủ
nghĩaực vậy, hãy xem xét kĩ và so sánh hai công thức lưu thông đó. Trao đổi lưu
thông hàng hoá tư bản có công thức khác với công thức lưu thông hàng hoá giản đơn.
Nếu công thức lưu thông hàng hoá giản đơn là H-T-H thì công thức của tư bản là T-H-T'.
Ta không thể phủ nhận hai công thức trên có nhiều điểm giống nhau vì chúng đều là
những công thức lưu thông hàng hoá. Cả hai công thức đều có các giai đoạn mua và bán
hàng, tức là dùng tiền để mua hàng hoá và đem hàng hoá đi bán để thu tiền. Các giai đoạn
đó bao gồm đủ cả người mua và người bán trên thị trường thì mới đảm bảo quá trình trao
đổi mua bán được diễn ra. Quan hệ trong lưu thông là quan hệ tiền với hàng. Nhưng hai
công thức trên khác nhau ở nhiều điểm căn bản như sau: Công thức lưu thông hàng hoá
giản đơn H-T-H có trình tự bán và mua như sau: trước tiên người có hàng đem hàng của
mình bán trên thị trường để thu tiền về. Nhưng đối với anh ta tiền không phải là mục đích
của lưu thông. Anh ta lại dùng tiền bán được này để mua hàng hoá khác. Quá trình lưu
thông lần đầu kết thúc ở đây.

Một ví dụ đơn giản là người nông dân bán một tạ gạo, số tiền anh ta thu được nhờ bán
gạo được anh ta sử dụng để mua một cái áo_ Điều đó có nghĩa là mục đích bán gạo của
anh ta là để mua áo. Điểm xuất phát và kết thúc là hàng hóa, tiền chỉ đóng vai trò là môi
giới trung gian. Công thức này cho thấy mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá
trị sử dụng. Vì vậy công thức là có giới hạn, nó kết thúc khi người mua tìm được giá trị
sử dụng. Còn công thức lưu thông hàng hoá của tư bản có trình tự ngược lại, mới đầu là
mua và kết thúc ở hành vi bán, thu tiền về. ở đây bắt đầu từ người có tiền, thay vì giữ tiền
trong túi anh ta ném nó vào lưu thông, dùng nó mua một số lượng hàng hoá nhất định.
Anh ta không hề có ý định sử dụng gì số hàng hoá đó cả mà ngay sau đó anh ta bán tất cả
chúng đi để lại thu tiền về. Hàng hoá đóng vai trò trung gian, môi giới. ở đây tiền là điểm

lĩnh vực sản xuất, Marx đã kết hợp cả quá trình sản xuất và lưu thông để tìm xem giá trị
thặng dư được sản xuất từ đâu? Và ông đã tìm ra chìa khoá lí giải nguồn gốc của giá trị
thặng dư. Để phát sinh ra giá trị thặng dư hay là sự tăng giá trị của số tiền cần chuyển
hoá thành tư bản không thể xảy ra từ bản thân số tiền ấy, chỉ có thể từ hàng hoá được mua
vào_một loại hàng hoá đặc biệt. Đó là hàng hoá sức lao động mà nhà tư bản đã phát hiện
trong lưu thông và tiêu dùng nó trong sản xuất.

Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa: “Sức lao động, đó là toàn
bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể một con người đang sống, và được người đó đem
ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó.”

Không phải sức lao động nào cũng trở thành hàng hóa. Ví dụ: Trong xã hội nô lệ thì sức
lao động của nô lệ không phải là hàng hóa vì bản thân anh ta đã thuộc sở hữu của chủ nô,
anh ta không có quyền bán sức lao động. Người thợ thủ công tự do tuy được tùy ý sử
dụng sức lao động của mình nhưng sức lao động của anh ta cũng không phải là hàng hóa
vì anh ta chỉ sản xuất tự cung tự cấp nuôi sống mình, chứ chưa buộc phải bán sức lao
động để kiếm sống.

Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi đồng thời thỏa mãn hai điều kiện sau: Thứ nhất,
Người lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có
quyền bán sức sức lao động của mình như một hàng hóa.; Thứ hai, Người có sức lao
động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt trở thành “vô sản”, để
tồn tại anh ta buộc phải bán sức lao động của mình để kiếm sống.

Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản.
Nhưng trước CNTB thì hàng hóa sức lao động chưa xuất hiện. Chỉ dưới CNTB thì hàng
hóa sức lao động mới xuất hiện và trở thành phố biến.

b) Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động: Giá trị hàng hóa sức lao động cũng do thời
gian LĐ XH cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức LĐ quyết định. Muốn SX và tái sản
xuất ra sức lao động người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt cần thiết

về ăn, ở, mặc, học nghề… Ngoài ra họ còn phải thỏa mãn những nhu cầu của gia đình và
con cái.

Giá trị của hàng hóa sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị của những tư liệu sinh
hoạt cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động. Giá trị ấy được hợp thành bởi: Giá trị
những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy
trì đời sống của bản thân người công nhân; Phí tổn đào tạo người công nhân; Giá trị
những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái người công nhân. Sự
biến đổi giá trị hàng hóa sức lao động một mặt tăng lên do sự tăng lên của nhu cầu trung
bình của xã hội về hàng hóa, dịch vụ, học tập, học nghề… mặt khác lại bị giảm xuống do
sự tăng năng suất lao động xã hội.

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng
sức lao động. Nhưng khác với hàng hóa thông thường, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức
lao động lại là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức
lao động.

Nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường một loại hàng hoá đặc biệt, đó là hàng hoá sức lao
động, mà giá trị sử dụng của nó có tính chất đặc biệt là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó
có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó. Phần lớn hơn đó là giá trị thặng
dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt. Chính đặc tính này đã làm cho hàng hoá sức lao động
trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển thành tư bản. Do đó việc tìm ra và lý giải phạm trù
hàng hoá sức lao động được coi là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong công thức
chung của tư bản. Nếu "T" của tư bản không dùng để bóc lột sức lao động của công nhân
thì không thể có "T'=T+∆T”.

Sức lao động chính là toàn bộ năng lực của con người bao gồm cả thể lực và trí lực tồn
tại trong con người và được người đó sử dụng vào công việc sản xuất hàng hoá. Trong
quá trình phát triển của lịch sử, sức lao động chỉ thành hàng hoá khi có 2 điều kiện sau:
Đó là người lao động được tự do về thân thể tức là chế độ chiếm hữu nô lệ phải bị thủ
tiêu. Nhưng họ lại không có tư liệu sản xuất để tiến hành sản xuất hàng hoá. Vì vậy, họ

xuất 1kg giấy cần 2kg gỗ nguyên liệu có giá 1đ. Trong một ngày nhà máy sản xuất
được 5kg giấy tức là cần 10kg gỗ nguyên liệu, hao mòn máy là 3đ, giá trị mỗi công
nhân tạo ra trong một giờ lao động là 500đ, tiền thuê lao động một ngày(16 giờ) là
4đ.Ta có số liệu sau: Các khoản chi phí sản xuất của nhà máylà: – Tiền mua gỗ:
(=10*1) 17đ – Hao mòn máy: 3đ – Tiền mua sức lao động trong 1 ngày:
4đ _________ Vậy tổng chi phí sản xuất là: 24đ Khi tính toán giá trị của sản
phẩm mới do các bộ phận đầu vào tạo ra, nhà tư bản tính như sau: Giá trị của 10kg gỗ
được chuyển vào 5kg giấy: 17đ Giá trị của máy móc chuyển vào 5kg giấy: 3đ
Giá trị sức lao động của công nhân tạo ra trong 16 giờ: 8đ Theo tính toán trên thì
tổng giá trị của 5kg giấy thành phẩm là 28đ. Như vậy với tổng chi phí mà nhà tư bản
đã bỏ ra là 24đ họ thu về sản phẩm mới là 5kg giấy có giá trị 28đ, lớn hơn giá trị
ứng trước là 4đ. Phần giá trị này là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động
mà người công nhân tạo ra trong quá trình lao động của mình bằng lao động trừu tượng.
Đây chính là giá trị thặng dư mà Tư Bản thu được qua quá trình sản xuất. Tiền biến thành
tư bản. Mâu thuẫn của công thức chung tư bản được giải quyết. Chỉ trong lưu thông nhà
tư bản mới mua được một hàng hoá đặc biệt là hàng hoá sức lao động. Sau đó nhà tư bản
sử dụng hàng hoá đó trong sản xuất (ngoài lưu thông) để sản xuất ra giá trị thặng dư cho
họ. Ta có thể hiểu bản chất của giá trị thặng dư: Là giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao
động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không. (b). Thực chất của quá trình sản
xuất ra giá trị thặng dư: Nghiên cứu quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư ở trên ta thấy
sản xuất ra giá trị thặng dư là quá trình tạo ra giá trị được kéo dài quá cái điểm mà ở đó
giá trị sức lao động của người công nhân do nhà tư bản trả được hoàn lại bằng vật ngang
giá mới. Điều này là do ngày lao động của người công nhân được chia thành hai phần.
Phần lao động mà người công nhân tạo ra với một lượng giá trị bằng giá trị sức lao động
của mình được gọi là thời gian lao động cần thiết. Trong ví dụ trên thời gian lao động cần
thiết của người công nhân là 8 giờ. Tuy nhiên trong thực tế người công nhân phải lao
động nhiều hơn số thời gian trên, tức là vượt quá thời gian lao động cần thiết. Phần thời
gian còn lại của ngày lao động sau khi đã trừ đi thời gian lao động cần thiết được gọi là
thời gian lao động thặng dư. Chính thời gian lao động thặng dư của người công nhân đã

tạo ra giá trị thặng dư _ cái mà mục đích sản xuất của nhà tư bản hướng vào, là giá trị mà
nhà tư bản muốn chiếm không của người công nhân. Hiện tượng này xảy ra là do nhà tư
bản có trong tay lượng tư bản nhất định, do đó họ sở hữu tư liệu sản xuất và như C
nói: họ chi phối được một số lượng lao động không công nhất định của người khác. Sau
khi đã mua hàng hoá sức lao động họ sử dụng nó như các tư liệu sản xuất khác, tức là sao
cho có lợi nhất cho họ, tạo ra nhiều giá trị thặng dư nhất. ở ví dụ trên 8 giờ lao động còn
lại trong ngày chính là thời gian lao động thặng dư và đã tạo ra giá trị thặng dư là 4đ.
Giá trị của sản phẩm sản xuất ra có hai phần: Phần giá trị cũ do lao động cụ thể của người
công nhân tạo ra và phần giá trị mới (gồm giá trị sức lao động và giá trị thặng dư) do lao
động trừu tượng của người công nhân tạo ra. Như vậy không thể tách biệt nghiên cứu quá
trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. Chúng thống
nhất trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa. Vì vậy nên nhiều khi nội dung đích thực
của quá trình sản xuất giá trị thặng dư bị lu mờ. Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư
thông qua việc sử dụng tư bản của nhà tư bản. Trong sản xuất nhà tư bản phải ứng trước
ra một số tư bản nhất định để mua tư liệu sản xuất và sức lao động. Quá trình sản xuất tạo
ra sản phẩm mới thì mỗi nhân tố của đầu vào có một phương thức chu chuyển giá trị của
nó vào sản phẩm mới là khác nhau, trong quá trình chu chuyển đó có thể giá trị của nó
không tăng lên, có thể giá trị của nó tăng lê .Tuỳ thuộc vào tính chất chu chuyển giá trị
của loại tư bản bỏ ra ban đầu mà C chia tư bản ra làm hai bộ phận là tư bản bất biến
và tư bản khả biến. Các khái niệm được hiểu như sau: Tư bản bất biến (kí hiệu là C) là bộ
phận tư bản biến thành tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm ,
tức là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất. Bộ phận tư bản này được
dùng mua tư liệu sản xuất là nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu… Trong
quá trình sản xuất, các công trình xây dựng nhà xưởng, thiết bị máy móc đó được sử dụng
trong nhiều chu kì, nhiều năm nên giá trị của nó chuyển dần từng phần vào sản phẩm
mới. Tuỳ theo mức độ và tính chất hao mòn mà quá trình trên diễn ra lâu hay nhanh
chóng. Còn tư liệu sản xuất là nguyên nhiên vật liệu thì giá trị của chúng được chuyển
nguyên vẹn vào sản phẩm mới trong một chu kì sản xuất. Dù chuyển một lần hay dần dần
vào sản phẩm thì các bộ phận trên có đặc điểm chung là giá trị không mất đi, không lớn

thặng dư nhà tư bản chiếm được từ lao động của công nhân nhiều hay ít) được biểu hiện
qua tỷ lệ % của m'. Nó chỉ rõ trong tổng thể giá trị mới do sức lao động tạo ra công nhân
được hưởng bao nhiêu và nhà tư bản chiếm bao nhiêu. Tỷ suất giá trị thặng dư cũng chỉ
rõ trong một ngày lao động phần thời gian lao động thặng dư t' mà công nhân làm