Thực hiện quản lý phát triển xã hội gắn với tiến bộ, công bằng xã hội theo quan điểm Đại hội XII của Đảng

xahoi8 9 Ảnh minh họa – Nguồn: bloghong.com

TCCS –

Mối quan hệ biện chứng giữa tiến bộ xã hội, công bằng xã hội và quản lý phát triển xã hội

Tiến bộ xã hội là một khái niệm phản ánh con đường tiến lên của xã hội được xem như một hệ thống toàn vẹn, hoàn chỉnh từ hình thái thấp lên hình thái cao hơn, đem lại những giá trị vật chất và ý thức tốt đẹp hơn cho sự hoàn thiện bản tính con người. Tiến bộ xã hội trước hết được xem xét trong mẫu đối lập với nó là thoái bộ. Tức thị lúc nói phạm trù tiến bộ xã hội, ko thể ko bàn mặt đối lập của nó là thoái bộ xã hội, xét trong tổng thể sự vận động xã hội. Nói cách khác, toàn bộ sự phát triển phải bao hàm cả sự tiến bộ và thoái bộ, sự đan xen giữa tiến bộ và thoái bộ trong quá trình thực hiện tiến bộ xã hội. Mặt khác, phải nhận thức và đặc trưng quan tâm tới tính chất ko đều của tiến bộ xã hội. Đây là phương diện mang ý nghĩa biện chứng của tiến bộ xã hội. Vì, sự phát triển ở mỗi phòng ban, mỗi lĩnh vực của xã hội ko chỉ tuân theo những nguyên tắc chung của tiến bộ lịch sử mà còn bị chi phối bởi những quy luật nội tại của bản thân phòng ban, lĩnh vực đấy, do đó, sự phát triển ko đều giữa những lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như ngay trong bản thân một lĩnh vực nào đó là một thực tế ko tránh khỏi.

Tiêu chuẩn của sự tiến bộ xã hội được thể hiện ở những thành tựu khoa học, trạng thái chính trị – xã hội, trình độ học vấn, bảo vệ sức khoẻ, lối sống, ý thức đạo đức, thế giới quan, kỷ luật lao động, văn hoá lao động, qua đó liên quan tới hiệu quả gia công… Xã hội nào đem lại nhiều khả năng hơn cho sự phát huy sức mạnh và năng lực sáng tạo của con người, hoàn thiện bản tính con người thì xã hội đó được coi là tiến bộ. Tiến bộ xã hội do đó gắn ngay lập tức với công bằng xã hội, được thực hiện trên cơ sở thực hiện công bằng xã hội. Nói cách khác, công bằng xã hội vừa là một tiêu chuẩn cơ bản của tiến bộ xã hội, vừa là điều kiện thực hiện tiến bộ xã hội.

Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử phản ánh mối quan hệ giữa người với người trên tất cả những lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó đảm bảo sự tương xứng giữa phẩm chất và năng lực với thời cơ và điều kiện phát triển, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ, ưng ý với khả năng hiện thực của xã hội một cách ngang nhau. Công bằng xã hội thể hiện khát vọng của con người và là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội. Công bằng xã hội mang tính toàn diện trên những lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…, trên cơ sở bảo đảm sự tương xứng giữa việc tạo ra và phân phối những thuận tiện xã hội.

Phương diện kinh tế của công bằng xã hội được xem xét là sự tương xứng giữa cống hiến của cá nhân, nhóm xã hội vào quá trình gia công với sự hưởng thụ những kết quả gia công – đây là phương diện cơ bản nhất của công bằng xã hội. Phương diện chính trị, pháp quyền của công bằng xã hội liên quan và quy định tới vấn đề dân chủ, tự do cá nhân, quyền con người, sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Quốc gia. Phương diện văn hóa – xã hội của công bằng xã hội liên quan và quy định vấn đề đạo đức, phong tục, tập quán, phân tầng xã hội, an sinh xã hội; vấn đề thời cơ trong việc sáng tạo và thụ hưởng những thành tựu văn hóa, nghệ thuật. Công bằng xã hội mang nội dung phong phú, tuy nhiên mang thể tổng thể ở hai nội dung chính, đó là, công bằng trong phân phối và công bằng về thời cơ, điều kiện phát triển.

Công bằng trong phân phối trước hết và rất quan yếu là trong phân phối tư liệu gia công. Dưới chủ nghĩa xã hội, phân phối theo lao động là đặc trưng bản tính và là hình thức thể hiện thế tất về mặt kinh tế của chế độ công hữu về tư liệu gia công. Nếu xóa bỏ phân phối theo lao động thì chế độ công hữu về tư liệu gia công sẽ ko được thực hiện, quyền đồng đẳng của người lao động đối với tư liệu gia công sẽ trở thành vô nghĩa, công bằng xã hội sẽ ko được thực hiện. Công bằng về thời cơ, điều kiện phát triển chính là việc tạo cho mọi người tiếp cận ưng ý những thời cơ, điều kiện phát triển, thông qua đó, phát huy mọi năng lực của mình, cống hiến tích cực, mang hiệu quả; song song, hưởng thụ một cách tương xứng với kết quả của sự cống hiến đó.

Công bằng xã hội muốn thực hiện mang hiệu quả phải đảm bảo quản lý phát triển xã hội. Nói cách khác, quản lý phát triển xã hội là điều kiện để thực hiện công bằng xã hội. Quản lý phát triển xã hội là sự tác động, tổ chức, điều chỉnh bằng quyền lực Quốc gia đối với quá trình phát triển xã hội đảm bảo thực hiện được những mục tiêu và yêu cầu phát triển xã hội vững bền theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong từng thời đoạn phát triển của giang sơn. Về mặt lý luận và nguyên tắc, phát triển xã hội được thể hiện qua việc xây dựng và thực thi những chính sách; còn quản lý phát triển xã hội là những hoạt động đảm bảo cho xã hội phát triển theo đúng quy luật, đảm bảo công bằng, tiến bộ và đồng đẳng xã hội. Về mục tiêu, quản lý phát triển xã hội cần đảm bảo phát triển chất lượng cuộc sống của nhân dân; nhân dân là chủ thể phát triển xã hội và quyền làm chủ đó được tôn trọng và bảo vệ; bảo đảm môi trường xã hội an toàn, lành mạnh; con người phát triển toàn diện, mang thời cơ cống hiến và hưởng thụ thành tựu của sự phát triển.

Về nội dung, quản lý phát triển xã hội thực hiện trên tất cả những lĩnh vực của đời sống xã hội, với những bước cơ bản là: Khảo sát, khảo sát thực trạng những vấn đề xã hội; xây dựng chiến lược, chương trình, kế hoạch, chính sách, pháp luật về phát triển xã hội; tổ chức triển khai thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch, chính sách, pháp luật về phát triển xã hội; kiểm tra, giám sát việc thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch, chính sách, pháp luật về phát triển, xử lý những sai phạm; sơ tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm. Như vậy, nội dung quản lý phát triển xã hội bao gồm nhiều bước, mang tính liên hoàn, tác động liên quan lẫn nhau, ko thể xem nhẹ một bước nào. Tuy vậy, vấn đề xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch, chính sách, pháp luật về phát triển xã hội mang ý nghĩa quyết định.

Quyết tâm thực hiện quản lý phát triển xã hội bền vững gắn với tiến bộ, công bằng xã hội

Rút kinh nghiệm về bài học nóng vội, chủ quan trong thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trước đổi mới, Đại hội XII của Đảng xác định: Thực hiện công bằng xã hội ưng ý với điều kiện cụ thể của nước ta; gắn kết chính sách kinh tế với chính sách xã hội nói chung, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Cương lĩnh xây dựng giang sơn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) chỉ rõ, phối hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống ý thức; giữa những nhu cầu trước mắt với chăm lo thuận tiện lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cùng đồng xã hội. Tiếp tục ý kiến đó, tại những kỳ đại hội VIII, IX, X, XI, Đảng đã xác định rõ hơn mục tiêu công bằng xã hội, triển khai thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội đạt được những kết quả bước đầu.

Sau 30 năm đổi mới, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội của giang sơn mang những bước phát triển quan yếu. Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Sự phát triển những lĩnh vực, những vùng, miền thiếu đồng bộ. Việc giải quyết một số vấn đề xã hội chưa hiệu quả; mục tiêu xây dựng quan hệ kết hợp giữa những lĩnh vực, ngành nghề, vùng, miền chưa đạt yêu cầu; giảm nghèo chưa vững bền, chênh lệch giàu – nghèo và bất đồng đẳng mang xu thế gia tăng. Chưa nhận thức hầu hết vai trò của phát triển xã hội kết hợp, chưa mang chính sách, giải pháp kịp thời, hiệu quả đối với vấn đề biến đổi cơ cấu, phân hóa giàu – nghèo, phân tầng xã hội, kiểm soát rủi ro, giải quyết mâu thuẫn xã hội, đảm bảo an toàn xã hội, an ninh cho con người”(1).

Hiện nay, khoảng cách phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng gia tăng; những nhóm xã hội yếu thế, người lao động ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa ít mang thời cơ tiếp cận một cách tốt nhất những điều kiện giáo dục, chăm sóc sức khỏe và những thời cơ xã hội khác. Sở hữu thể nói, công bằng xã hội là mục tiêu cao đẹp, nhưng về cơ bản chưa thực sự được cụ thể hóa thành những nội dung ưng ý với từng lĩnh vực, từng đối tượng dân cư, từng vùng miền, từng chính sách, từng việc làm thiết thực. Nhiều hiện tượng bất công vẫn xảy ra khiến niềm tin của một bộ phận người dân về một sự tiến bộ và công bằng xã hội bị xói mòn, tiềm tàng nguy cơ gây mất ổn định chính trị – xã hội.

Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân. Một mặt, công bằng xã hội là một vấn đề phức tạp, khó mang một quan niệm, một chuẩn mực “bất di, bất dịch” về công bằng xã hội chung cho mọi quốc gia, mọi thời đại, cũng như ko thể áp đặt những chuẩn mực về công bằng xã hội vượt quá những cơ sở, điều kiện khách quan của lịch sử cho phép. Mặt khác, để hiện thực hóa mục tiêu công bằng xã hội cần hàng loạt những điều kiện khách quan và chủ quan, phải giải quyết nhiều quan hệ rộng rãi và phức tạp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc trưng là quan hệ thường ko dễ điều hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, giữa quy luật khó khăn thị trường cùng những hệ quả tiêu cực của nó với mục tiêu xây dựng xã hội lành mạnh, tiến bộ, xác lập công bằng xã hội toàn diện…

Tiếp tục tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận để xây dựng một mô hình lý thuyết về phát triển xã hội, về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ưng ý với điều kiện nước ta, Đại hội XII của Đảng xác định: “Quản lý tốt sự phát triển xã hội; đảm bảo an sinh xã hội, tăng phúc lợi xã hội; thực hiện tốt chính sách với người mang công; tăng chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân, chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống của nhân dân; thực hiện tốt chính sách lao động, việc làm, thu nhập; xây dựng môi trường sống lành mạnh, văn minh, an toàn”(2). Ý kiến trên thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng về vấn đề công bằng xã hội, cụ thể hóa những vấn đề thực hiện công bằng xã hội, gắn thực hiện công bằng xã hội với an sinh xã hội, quản lý phát triển xã hội vững bền.

Nhấn mạnh và gắn kết việc thực hiện mang hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội với việc đảm bảo an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển là một điểm mới trong nhận thức của Đảng ta về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Bởi lẽ, an sinh xã hội về bản tính thể hiện quyền cơ bản của con người, là dụng cụ để xây dựng một xã hội tiến bộ, kết hợp, văn minh. Nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội là đảm bảo sự san sẻ, tương trợ đối với rủi ro của những thành viên trong cùng đồng xã hội.

Muốn cho sự phát triển kinh tế mang tác động tới công bằng xã hội, cần thiết hệ thống chính sách xã hội tích cực, đúng đắn, song song động viên được toàn xã hội tham gia thực hiện. Mục tiêu bao trùm của tất cả những chính sách xã hội là phải mang lại cho con người một cuộc sống tốt đẹp ko chỉ dành riêng cho một thiểu số hay tập đoàn nào, mà là cho mọi người dân trong xã hội; chính sách đó phải phát triển xã hội một cách vững bền ưng ý với điều kiện lịch sử cụ thể và truyền thống văn hóa của dân tộc.

Thực hiện chủ trương đó, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định, về chính sách kinh tế, phát triển kinh tế nhanh và vững bền; tăng trưởng kinh tế trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, tiên tiến hóa, chú trọng công nghiệp hóa, tiên tiến hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; phát triển kinh tế tri thức, tăng trình độ khoa học, kỹ thuật của những ngành, lĩnh vực; tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức khó khăn của nền kinh tế; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tham gia mang hiệu quả vào mạng gia công và chuỗi giá trị toàn cầu.

Về chính sách xã hội, tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội ưng ý với quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Mở rộng đối tượng và tăng hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội tới mọi người dân; tạo điều kiện để trợ giúp mang hiệu quả cho từng lớp yếu thế, dễ tổn thương hoặc những người gặp rủi ro trong cuộc sống. Phát triển và thực hiện tốt những chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động,… Chuyển từ tương trợ nhân đạo sang đảm bảo quyền an sinh xã hội của công dân. Đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều nhằm đảm bảo an sinh xã hội cơ bản và tiếp cận những dịch vụ xã hội cơ bản. Tổ chức tốt hơn việc cung cấp những dịch vụ xã hội cơ bản thiết yếu. Thực hiện tốt những chính sách tương trợ nhà ở cho những đối tượng chính sách, người nghèo, nhân dân sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất và sinh viên,… Phát triển rộng rãi những hình thức từ thiện, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia trợ giúp những người yếu thế.

Về thực hiện công bằng xã hội trong phân phối, Đảng ta xác định ko chỉ ngừng lại ở phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế mà còn phải phối hợp với những nguyên tắc khác, như: phân phối theo mức đóng góp vốn cùng những nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Thực hiện những giải pháp, chính sách và quản lý để khắc phục từng bước sự mất cân đối về phát triển đối với từng lĩnh vực, từng vùng, đảm bảo sự kết hợp cả trong phát triển, hưởng thụ; đảm bảo cơ cấu giai tầng xã hội, dân cư, ngành nghề tối ưu. Gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với tăng chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành tựu của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển giang sơn.

Chính sách kinh tế dù tối ưu tới đâu, cũng ko thể bao quát và giải quyết được tất cả những khía cạnh phức tạp của lĩnh vực xã hội rộng to. Bởi vậy, những giải pháp kinh tế nếu ko đi tất nhiên những giải pháp xã hội nhất định sẽ làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội nhức nhối. Cần mang những chính sách xã hội nhất định để bổ sung cho chính sách kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội xuất hiện trong quá trình tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Một chính sách xã hội tiến bộ và công bằng phải đảm bảo tái gia công sức lao động cho xã hội; đảm bảo cơ sở và những điều kiện cơ bản cho đời sống vật chất và ý thức của con người thông qua những chính sách phân phối thu nhập cho mọi đối tượng, huấn luyện, giáo dục, bảo vệ sức khỏe, bảo hộ và bảo hiểm lao động, tăng dân trí, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế hiện nay và chuẩn bị một hàng ngũ lao động cho những bước phát triển cho tương lai của giang sơn.

Thực hiện nguyên tắc đó, Đại hội XII của Đảng xác định, giải quyết tốt lao động, việc làm và thu nhập cho người lao động… Tạo thời cơ để mọi người mang việc làm và cải thiện thu nhập. Đảm bảo tiền lương, thu nhập công bằng, đủ điều kiện sống và tái gia công sức lao động. Huy động tốt nhất nguồn lực lao động để phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển giang sơn. Chú trọng giải quyết việc làm cho lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do việc tích tụ, tập trung ruộng nương hoặc thu hồi đất phát triển công nghiệp, thị thành và những công trình công cùng. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về tiền lương, tiền công, khắc phục cơ bản những bất tối ưu…

Tiến bộ và công bằng xã hội phải được thực hiện thường xuyên, ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trong mỗi thời đoạn, tiến bộ và công bằng xã hội mang những đặc điểm riêng ưng ý với trình độ phát triển kinh tế – xã hội của giang sơn, ko thể hoàn thành ngay trong một sớm, một chiều. Dù còn nhiều khó khăn, nhưng tiến bộ và công bằng xã hội luôn là khát vọng của nhân dân, là mục tiêu thấm đượm ý thức nhân văn hướng đến trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, mà toàn Đảng, toàn dân ta đang nỗ lực, tin tưởng và quyết tâm thực hiện./.

ThS. Vũ Thị Minh Tâm, Khoa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Kỹ thuật quân sự

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 133, 134

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 78

Theo: bloghong.com

Leave a Reply